cỏ

cỏ

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2018

Bia (Les stèles) ;

Trên con đường ngang qua chùa, ở mỗi bên chùa đều có một tấm bia đá nhỏ, đỉnh tròn, dựng đứng, trên mỗi bia được khắc hai chữ hán lớn "Hạ mã " và "Thượng mã". "Hạ mã" là một lời mời gọi người lữ khách xuống ngựa, đi bộ qua đền chùa để tỏ lòng tôn kính với thần phật bản thổ.

Người An nam cũng dựng những bia nhỏ trên mộ phần của người mất, dựng ở phía trên đầu. Nó có bề ngang nhỏ hơn so với loại kể trên, đôi khi rất thô sơ và không có thể thức cố định; một mặt được khắc cho hay tên và học vị người quá cố, không tuổi, nghề nghiệp hay ngày mất; luôn có một lời đề : Tới thân phụ , Tới bá phụ, ...Trừ trường hợp đặc biệt ở những gia đình giàu có luôn lưu giữ mộ phần tổ tiên, các ngôi mổ được bảo quản và chăm sóc cẩn thận cho đến thế hệ thứ năm; luật không tính thế hệ thứ năm là chung một họ tộc và họ có thể kết hôn lẫn nhau. Con cháu có thể kết hôn và tạo thành các chi, các tộc mới. Bia cho người quá cố được gọi là bia mộ chí.

Bia kỷ niệm việc dựng hay tu bổ đền chùa, cầu đường hay những công trình để lưu truyền một sự kiện lịch sử hay tôn giáo hay để lưu lại sự quyên góp từ những tín hữu đôi khi thực sự là một tác phẩm nghệ thuật.

 Bia được đặt biệt bảo quan như một tác phẩm điêu khắc, có lúc quan đến một sự kiện trọng đại, lúc khắc ghi tên tuổi riêng mà người ta không muốn bị tàn phá bởi thời gian, thông thường bia được đặt  dưới mái một công trình kiến trúc nhỏ nhằm tránh mưa tránh nắng; ví dụ như bia của đàn Nam giao nhà Lê là một trong những tác phẩm tuyệt mỹ nhất ở xứ Bắc kỳ này mà vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay nằm ở giữa đồng ruộng trên phố Huế, gần thành cổ Hà Nội. Đàn Nam Giao đã bị xóa sổ từ 60 năm nay.

Bia đá hiện nay làm theo hình chữ nhật với đỉnh bia tròn; trên trán bia được đọc đẽo những biểu tượng, hoa văn mang tính biểu tượng, đôi khi tràn xuống cả thân bia. Chúng tôi đã bắt gặp chỉ một lần duy nhất sự thể hiện họa tiết hình người trên bia đá kiểu này ở chùa Lãnh (Lanh?) ở Hoài Đức. Bia khắc hình hai người phụ nữ chân quê đang cưới trên một con rồng được vẽ và khắc nét tinh xảo; bia nầy được làm bằng đá hoa có niên đại dưới triều vua Lý Thánh Tông. (1)

Tên công trình kiến trúc mà bia đá thuộc về được khắc nổi, trên trán bia là dòng chữ được khắc chìm với mỗi chữ được đặt riêng biệt trong một ô có trang trí hoa văn xung quanh.

Bia đá có thể được làm một phần tường hoặc gắn chặt vào tường của đền chùa, hay dựng đứng trên một bệ khối đặc được trạm khắc cầu kỳ hay không.

Phổ biến thường thấy nhất là bia đã được dựng trên lưng một con rùa lớn bằng đá để vinh danh những công trình kiến trúc nổi tiếng hoặc những tên tuổi lớn trong hàng ngàn năm với ý nghĩa trường tồn như tuổi thọ loài rùa.

Trong Văn miếu quốc tử giám ở Hà Nội, nơi mà người Âu châu gọi bằng cái tên khác là chùa quạ (Pagode des Corbeaux) , có 82 bia đá được dựng trên lưng rùa, được sắp xếp cân xứng xung quanh một hồ lớn hình chữ nhật (ND - giếng Thiền Quang?). Chúng ghi dấu của những cuộc thi khảo đã diễn ra ở nơi này dưới sự chủ tọa của vua từ năm 1476 tới 1784 , trên bia là tên của những người trúng tiến sỹ.

Những bia đá có dấu phết tàn phá của loài người là minh chứng cho những thời kỳ biến động hay sự thay đổi vương triều.

Nhiều những đoạn ghi chép lại về các nhân vật chính trị hay sự kiện lịch sử đã bị tẩy xóa bằng đục trên bia đá, điển hình như trên bia đá đền Quán thánh (pagode de Grand Bouddha de Hanoi) để ghi chép lại công trạng nhà Trịnh phò tá vua Lê giành lại ngôi báu ở Hà Nội; cũng như là để loại bỏ những điều xuyên tạc, không đúng sự thực về công trạng của một nhân vật lịch sử được khắc trên bia đá.

Tấm bia đá ở một trong những đền chùa xứ Đình Bảng khắc tên vinh danh một vị vua triều Lý, nằm gần khu rừng nơi cất giữ mộ phần các vua triều đại này, đã bị phong kín trong một hầm nhỏ vây quanh bởi tường khối và chỉ mới được phát hiện thời gian gần đây.

Để làm tỏ hơn về những văn tự được khắc trên bia, bản dịch bia kỷ niệm về việc xây lại cầu bắc qua sông Tô lịch năm 1719, được biết với tên Cầu giấy được dịch như dưới đây.

' Cầu được xây để nối đôi bờ sông cho phép sự đi lại tự do hơn giữa đân cư đôi bờ; nó là một công vụ lớn phục vụ cho quần chúng. Chân thành cám ơn những người đã đóng góp vào công cuộc nầy. Tuy nhiên sau nhiều thế kỷ tồn tại, cầu trong cảnh đổ nát cần một lần nữa lên tiếng tới nhà cầm quyền một sự tu bổ.

Cầu Giấy tiếp giáp về phía đông với Ville Royale(2), về phía nam trông ra núi Tản Viên (3), về phía bắc với Sông Nhị Hà (4). Dưới cầu là sông nước chảy qua nhiều đình, đền.

Hôm nay, khi việc tu bổ đã hoàn thành, dân cư đôi bờ đi lại thuận tiện như xưa; cây cầu được tu sử sẽ mang lại niềm vui cùng nhiều lợi ích cho các vùng xung quanh, bởi vậy bia này dựng lên nhằm ghi lại sự kiện đáng nhớ này.

Cầu được tu sửa vào mùa đông năm Vĩnh Thịnh thứ 43 (5).

Soạn văn tự, quan thái thú Nguyễn Đình (Dinh?) phủ Quốc Hoài (Hoai?).

Khắc chữ Đỗ Văn An, người làng Yên Khê huyện Thường Phục.'

Ở Ấn độ, việc hiến đất xây đền chùa cũng được ghi, khắc lên những bia bằng đồng hay bằng kim loại khác,

(1) Vị vua thứ ba của triều Lý, trị vì 19 năm từ năm 1054 tới 1072. Lý Thánh Tông đã cho xây dựng ở Hà Nội ngôi tháp Báo Thiên nổi tiếng. Ở vị trí của tháp này hiện vẫn còn lưu lại những dấu tích xưa bằng những khối đá được trạm trổ khéo léo lẩn khuẩn trong rễ của những gốc đa già. Tháp cũ tọa trên phố Nhà chung ( Rue de la mission), nằm giữa nhà thờ lớn và nhà quan Tổng đốc.

(2)Thăng long, Hà nội.

(3) Núi Ba vì

(4) Sông Hồng

(5) 1719. Triều vua Lê Dụ Tông.
Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 146.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét