cỏ

cỏ

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2018

Lư hương (Les vases de culte) ;

Việc sản xuất và buôn bán đỉnh hương, lọ thờ phát triển tạo thành một ngành thương mại quan trọng với số lượng thợ thủ công và con buôn lớn ở Hà Nội. Một ngôi làng khép kín rất lớn tọa trên một hòn đảo ở Hồ Tây, gần đền Quán Thánh hoàn toàn làm ngành nghề này. Có cả một con phố chuyên bán đồ đồng.

Mỗi một ban thờ cần được trang bị một bộ đồ thờ mà người ta gọi là đồ ngũ sự. Chúng bao gồm:
1. Đỉnh hương
2. Hai chân đèn
3. Một cặp chân nến
4. Hai ống cắm hương
5. Ba chén nước thờ được đặt trên đế.

Hình dáng lọ ít có sự khác biệt, người ta đếm được khoảng một tá mẫu khác nhau nhưng chung quy lại chỉ có ba mẫu thường gặp trong tất cả các chùa mà hoàn toàn phù hợp cho các buổi lễ.

Đỉnh hương vuông là loại có bốn chân, trên nắp có một con lân, có hai phụ kiện đi kèm theo; ống thìa dài hình buông dùng để cắp đôi đũa giống (bâtonnets de cuivre) và một casixucs nhỏ để xúc tro để cều lửa trong đỉnh hương; lọ thứ hai được đậy nắp, đôi khi nắp được làm rất tỉ mỉ, nó dùng để chưa hương, gọi là Hộp hương.



Lư hương tròn thì có ba chân, không có nắp đậy. Nó được lấp đầy bởi tro để làm nơi cắm que hương.

Trong các ngôi chùa Trung hoa, lư hương có một kích thước vô cùng lớn, điển hình thấy như trong Hội quán Quảng đông ở Hà Nội.

Vạc ba chân mang tính biểu trưng cao; ở Trung quốc nó tượng trưng cho tam quốc, ba quốc gia cùng tương hỗ nhau.

Dưới thời vua Cao Tông triều Đường, An nam Đô hộ phủ (1) là một trong ba vùng kết hợp mà người ta thường gọi là ba chân vạc. Đầu tiên là vùng quân sự Giao Châu nằm ở Long Biên, ngoại ô Hà Nội, tiếp đến là thủ phủ hành chính Quế Lâm mà ngày nay là một phần của tỉnh Quảng Tây, cuối cùng là nơi vua ngự, Phiên Ngung (番禺区)hay Quảng Châu ngày nay. Ba vùng này trên thực tế tạo thành 3 đỉnh của một tam giác.

Ở Bắc kỳ người ta phát hiện những dấu tín biểu tượng cổ đại này trong niềm tin, tín ngưỡng của tộc người Mường, tộc người đã duy trì các phong tục và cách thức tổ thức chính quền người giàu làm chủ; người ta nói ở tộc Mường bi sống ở sông Đà, có dòng họ Đinh vẫn còn lưu giữ cái vạc lớn to  đến mức có thể thui ba con trâu cùng lúc trên nó.

Đỉnh tròn cũng là mội loại đỉnh hương có ba chân nhưng hình tròn, phía trên nắp có một con sư tử, thường đi với hai cây chân nến bằng đồng tạo một bộ tam sự.

Đối với bàn thờ thần linh, bắt buộc phải có moojtt bộ thờ bao gồm: một đỉnh hương vuông không nắp, hai lọ trang trí và hai chân nến, tất cả làm bằng thiếc được gọi là bộ ngũ sự bằng thiếc. Một số đền chùa có điều kiện eo hẹp thì chỉ có những bộ đồ thờ này bằng gỗ nhưng hình dáng cách thức thì không được thay đổi, các lọ được phủ bởi một lớp giấy mạ thiếc sơn thiếp.

Ta cũng bắt gặp những bình hình quả đào, quả hạnh, quả lựu với sự tượng trưng cho Phúc, Thọ. Một số vật dụng khác nằm rải rác đó đây đang ngày một trở nên khan hiếm hơn cho thấy một số thời kỳ mà nghệ thuật đồ đồng ở An nam phát triển rực rỡ; người ta nhận thấy ở những món đồ đó, xuất xứ cũng như những đồ án trang trí mà ngày nay không còn thấy nữa.

Chỉ cần một chút hiểu biết, bằng mắt thường ta cũng có thể nhận ra được đồ đồng Trung hoa. Chúng là những món đồ rất cổ được phủ một lớp gỉ mỏng, trước đây được đặt làm bởi những nhà giàu có tiến cống cho các đền chùa mà ngày nay đã không còn tồn tại nữa nên những vật dụng trong đó trở thành của công thất lạc vào trong dân gian. Những món đồ này lọt tới thị trường Hà Nội, một số món được làm nhái lại nguyên mẫu.



Ngày nay, người thợ thường đúc ba tới bốn mẫu thông dụng kể trên cùng một số mẫu đặc biệt phần lớn được đặt bởi những khách hàng a-ma-tơ người Âu châu. Có rất ít những sản phẩm tinh xảo do quá trình đúc không tuyệt đối chính xác hoặc do sự va chạm, cọ sát lẫn nhau làm các hoa văn, nét chìm nổi có phần nhòe mờ. Dũa và dao khắc không được biết tới ở đây để đọc trạm sản phẩm. Họ mài chúng vào những phiến đá mài hay chà sát sản phẩm bằng cát ẩm trộn với gio bếp để tạo độ sáng bóng cho đồ đồng.

Người An nam sản xuất nhiều món đồ nhái theo lối cổ để lừa những người mua a-ma-tơ từ Âu châu với mức giá cao hơn tới 15 lần bằng cách cố tình tạo sứt mẻ hay ngâm vào một loại dung dịch đặc biệt để tạo một lớp gỉ đồng mỏng.


(1) ND - An Nam đô hộ phủ (chữ Hán: 安南都護府) là tên gọi Việt Nam thời Bắc thuộc lần 3, từ năm 679 đến năm 866, với bộ máy cai trị của nhà Đường trên vùng tương ứng với một phần tây nam Quảng Tây (Trung Quốc), Miền Bắc và miền Trung Việt Nam ngày nay, có địa bàn từ Hà Tĩnh trở ra. 
Đô hộ phủ (chữ Hán: 都護府) là các cơ quan quản lý các khu vực biên giới của một số triều đại phong kiến Trung Quốc.

Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 152.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét