Ở Bắc Kỳ thường bắt gặp các đoàn rước, chúng khác biệt cả về mục đích lẫn tính chất. Tuy nhiên, ta có thể phân xếp chúng thành hai loại hoàn toàn khác biệt: Đám rước phật giáo được thực hiện bởi các thầy chùa, và đám rước mà không có các thầy chùa tham gia.
Đám rước phật giáo diễn ra trong không gian nhà chùa hay những nơi thuộc quản lý của chùa chiền; ngoại trừ vào một số lễ hội tôn giáo như là ngày mở cửa địa ngục cho vong hồn ra khỏi Địa phủ vào tháng Bảy, đám rước sẽ mở rộng hơn ra bên ngoài và đến thăm các ngôi đền khác. Tuy nhiên, những đám rước loại này thì không ấn tượng cho lắm. Các thầy chùa, học viên tu tập, người phục vụ lễ đi thành hai hàng đi phía trước chủ tế, có hai thầy chùa ở hai bên chủ tế trợ việc. Họ khoác những chiếc áo cà sa, có khi thêm những băng màu rực rỡ. Chủ tế đội thêm một chiếc mũ miện được trang trí xung quanh bằng chữ Phạn, tay cầm một cành sen giả.
Trong đám rước này, người ta khiêng những chiếc bàn đặt lễ được đặt rất nhiều những đồ mã, từ nén vàng nén bạc, cho tới tàu thuyền, giếng, nhà cửa,... để đốt sau khi kết thúc. Một người cầm lọng đi theo che cho vị chủ tế.
Đôi khi, các vị ni cô đi thành nhóm theo đám rước này, trên tay cầm theo cờ hiệu nhỏ mà trên đó được ghi bằng chữ Hán các câu nguyện tiếng Phạn như sau: Namo A Di Đà Phật. Namo Địa Tạng Bồ tát (Salut au bouddha Adida. Salut au bodhisatwa Dia Tang). Trong trường hợp nhiều ni cô, họ sẽ đi thành một hàng nối đuôi nhau trên tay đỡ chung một tấm vải cao quá đầu được gọi là cầu lụa (pont de soie). Nữ trụ trì theo đằng sau khoác áo cà sa đỏ và ngồi võng lưới.
Trong đám rước phần đông là nữ giới, ít có nam giới.
Loại đám rước còn lại thì có liên quan đến việc cúng tế thần linh, ni cô đôi khi có tham gia còn các thầy chùa thì tuyệt nhiên không. Làng xã chịu trách nhiện về chi phí cho các lễ tế này. Chúng trở thành một cái gì đó mang tính quốc gia hơn là đám rước phật giáo.
Nếu là đám rước ở một ngôi làng lớn, đám rước có thể dài đến cả cây số. Ta thấy trong các đám rước đó có sự hiện diện của các loại bộ lễ, cờ xí, bộ binh, bộ nhạc, ngai, trẻ nhỏ mang cờ lệnh; tiếng trống được đánh theo nhịp; người được mặc trang phục nữ và nhảy múa vòng quanh. Tất cả dân làng đều tham dự; trai làng tám người lực lưỡng diện những bộ đồ đẹp nhất để khiêng kiệu bát cống, phụ nữ trong làng trẻ thì váy lụa xanh đỏ, có tuôi thì váy tím sậm hay đen. Tri huyện, tri phủ cùng chức sắc trong làng, xã mặc y phục tế lễ với cổ tay rộng, đội mũ quan, chân xỏ hài đi theo kiệu bát cống. Thanh niên nam nữ đeo những vòng hoa được kết từ hoa nhài.
Các bô lão trên 70 tuổi đi dẫn đầu đoàn người, đầu đội một chiếc mũ riêng biệt gọi là Mũ Ni. Mũ Ni có chỏm màu đen, đỏ với đáy phẳng được thêu tô điểm các vòm ở hai bên và quai màu đen dài tới tận dải thắt lưng.
Đám rước được diễu trước quần chúng để xua đuổi những tà ma, bệnh dịch, tai họa bằng cách dâng lời khấn lên vị thần linh mà họ thờ phụng. Hình ảnh hay mộc chủ vị thần linh này được đặt trong khám thờ, để trên kiệu bát cống có người khiêng trong đám rước.
Vào mùa khô, người ta thường tổ chức các đám rước để cầu mưa. Nếu trời mưa quá nhiều, đám rước cũng có thể được tổ chức để cầu mưa thuận gió hòa.
Tăng ni nhiều khi đi như đám rước để kiếm tìm nước sạch cọ rửa tượng chùa. Nguồn nước này không phải được chảy ra từ ruộng đồng hay ao hồ, mà phải từ các con sông, tốt nhất là ở nơi hợp lưu giữa các dòng.
Ngày mười lăm và ngày mồng một hàng tháng, người Hoa ở An nam thường hay múa rồng. Con rồng được làm kết hợp tre, mây, vải và giấy vẽ màu. Khung xương thì mềm mại được nâng lên hạ xuống bởi hai thanh tre giữ bởi hai người thanh niên cho phép phần thân của con rồng chuyển động uyển chuyển lên xuống uốn éo như loài rắn. Phần đầu rồng được túm bằng tay giơ cao bởi một người khác mặc y phục đặc biệt cốt để giấu đi phần nào người diễn. Các động tác không được phóng túng mà phải dứt khoát, khỏe khoắn thể hiện được cái đầu rồng với đôi mắt tợn bạo linh hoạt, hàm lưỡi dính khớp với nhau và di chuyển một cách khác lạ. Một người cầm cái sào có treo một quả cầu, hay một cái đèn lồng tròn vào ban tối, đi phía trước và dụ dỗ con thú. Đôi khi, người cầm sào được thế bởi một người đóng vai con hổ, đó chính là Long hổ tranh hùng.
Lễ hội múa rồng vào mùa xuân của người Hoa là một tục lệ có từ ngàn xưa. Xin mượn lời từ cuốn M.de Groot của soạn giả Schlegel trong cuốn Thiên tượng học Trung hoa (Uranographie chinoise) như sau:
'Từng có thời sao Alpha Virginis/Spica (1) thuộc chòm sao Xử nữ, ngôi sao mà người Trung hoa cổ đại cho là cái đầu của chòm sao Thanh Long, hiện ra vào thời điểm bắt đầu mùa xuân ở phía đường chân trời cùng lúc với mặt trời và khi vào mùa, người ta cũng trông thấy từng phần từng phần một của chòm sao Thanh Long, con linh vật bầu trời, hiện ra ở biên bầu trời cùng lúc với vầng dương. Tiến sỹ Schlegel dựa trên sự tiến động của các phân điểm đã quay ngược về khoảng 160 thế kỷ trước cho rằng : giai đoạn này đã xuất hiện những tộc người mà phần lớn vẫn còn tồn tại tới nay ở khu vực Trung Hoa. Nếu giải thuyết này đúng, nó hẳn góp phần quan trọng vaò thiên tượng học truyền thống viễn Đông đồng thời có ý nghĩa với tộc người Trung hoa hiện nay, khi họ có một lịch sử phát triển lâu dài như khi loài người xuất hiện ở âu châu.'
Chúng ta đã biết loài rồng, trong đám hội mùa xuân, được dắt bởi một người đàn ông cầm gậy, một đầu treo quả cầu sáng. 'Người cầm gậy sẽ nghiêng bên phải, nghiên bên trái và cái đầu rồng cũng phải nghiêng theo quả cầu như thể nó đang cố gắng nuốt lấy quả cầu lửa đó vậy. Chiếc cầu này có thể tượng trưng cho mặt trời mùa xuân của 18,000 năm về trước, còn con rồng bằng vải có lẽ là sự tái hiện của Thanh Long (dragon azuré) của vùng đất trung hoa cổ xưa mà đầu rồng, tương ứng chòm sao Spica , nay đã lùi vào bóng tối, mọc và lặn cùng lúc với mặt trời khai xuân? Hiện tượng thiên văn học này thực sự có thể được miêu tả một con rồng tiến lên từng bước từng bước đuổi theo mặt trời và cuối cùng là nuốt chửng mặt trời; và nếu như các đám rước còn diễn ra hiện thời lấy nguyên căn từ đó, hẳn nó thật đáng gây sửng sốt sau khi trải qua bao thời đại vẫn còn giữ vững.'
Cũng phải thêm vào rằng, trái ngược với những gì trình diễn ở Paris vào Hội chợ toàn cầu năm 1889 (Exposition universelle de 1889) nơi mà lễ múa rồng được giới thiệu là một phong tục của người An nam, nó chỉ tồn tại ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, một tục lệ thuần túy của người Hoa.
Chúng ta đã biết loài rồng, trong đám hội mùa xuân, được dắt bởi một người đàn ông cầm gậy, một đầu treo quả cầu sáng. 'Người cầm gậy sẽ nghiêng bên phải, nghiên bên trái và cái đầu rồng cũng phải nghiêng theo quả cầu như thể nó đang cố gắng nuốt lấy quả cầu lửa đó vậy. Chiếc cầu này có thể tượng trưng cho mặt trời mùa xuân của 18,000 năm về trước, còn con rồng bằng vải có lẽ là sự tái hiện của Thanh Long (dragon azuré) của vùng đất trung hoa cổ xưa mà đầu rồng, tương ứng chòm sao Spica , nay đã lùi vào bóng tối, mọc và lặn cùng lúc với mặt trời khai xuân? Hiện tượng thiên văn học này thực sự có thể được miêu tả một con rồng tiến lên từng bước từng bước đuổi theo mặt trời và cuối cùng là nuốt chửng mặt trời; và nếu như các đám rước còn diễn ra hiện thời lấy nguyên căn từ đó, hẳn nó thật đáng gây sửng sốt sau khi trải qua bao thời đại vẫn còn giữ vững.'
Cũng phải thêm vào rằng, trái ngược với những gì trình diễn ở Paris vào Hội chợ toàn cầu năm 1889 (Exposition universelle de 1889) nơi mà lễ múa rồng được giới thiệu là một phong tục của người An nam, nó chỉ tồn tại ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, một tục lệ thuần túy của người Hoa.
(1) Alpha Virginis: (tiếng Anh: Spica, α Vir / α Virginis / Alpha Virginis) là
ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Xử Nữ (Virgo), và là một trong những sao sáng
nhất trên bầu trời ban đêm.
Trong thiên văn học Trung Quốc cổ đại, Alpha Virginis là một
phần của sao Giác trong nhị thập bát tú. Cùng với nó còn có ζ Virginis để tạo
ra sao Giác này. -ND
Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du
cultes chez les annamites, 1891, trang 77./
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét