cỏ

cỏ

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2018

Khánh đá (Le tympan de pièrre) ;

Khánh là những vật dụng đáng lưu tâm mà mỗi chùa lớn đều có một cái. Nó được làm từ một phiến đá xanh theo hình lưỡi liềm được trang trí với phần giữa lồi lên có một lỗ nhỏ trên đầu để làm nơi treo móc.



Khánh có âm khá vang, người ta thường gõ khánh bằng một chiếc búa gỗ vào điểm phình ra được làm nằm ở vị trí giữa khánh.

Khánh đá có nguồn gốc từ Trung hoa; tuy nhiên hình dáng của nó đã hoàn toàn bị biến đổi. Những bức vẽ về khánh tìm thấy trong các cuốn cổ thư của Trung hoa theo dạng hình ke góc vuông. Nó là một trong những nhạc cụ cổ xưa nhất của loài người. Người ta treo trúng thành hàng nhiều ít vào một cái khung gỗ và gõ bằng một cái búa nhỏ tạo nhịp điệu.

"Khi ta gõ vào khánh đá, vua Thuấn nói, muông thú phủ phục quanh ta và hoan hỉ vui mừng."

Việc sử dụng đá để tạo âm sắc như một thanh cụ báo hiệu hẳn nhiên đã được dùng từ trước thời kỳ đồ đồng của nhân loại. Không có gì là kỳ lạ khi việc này vẫn còn tồn tại ở nhiều tộc người có đời sống khép kín với văn minh nhân loại mà duy trì nếp sống nguyên thủy từ 40 thế kỷ trước với cơ cấu tổ chức và ngôn ngữ không hề thay đổi.

Nhiều chùa dùng khánh đồng thay cho khánh đá.

Cũng như chuông, khánh được tín hữu cung tiến cho các chùa; trên khánh được khắc dương văn hoặc âm văn kể về hoàn cảnh xuất xứ, đôi khi là cả trọng lượng, giá trị và tên của những người cung tiến.

Sau đây là đoạn dịch văn tự được khắc trên chiếc khánh đồng lớn thuộc về đền Quán Thánh, Hà Nội.

Chùa Trấn Vũ (ND - La pagode de Tran Vu hay còn gọi là Grand Bouddha de Hanoi, đền Quán Thánh) có một chuông chùa và một trống cái, nhưng vẫn chưa có khánh. Một người dân làng Đông du huyện Gia lâm, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh  tên là Nguyễn Huy Bình đã kêu gọi quyên góp tiền bạc cần thiết để đúc một chiếc khánh cung tiến treo trong chùa này.

Những người đã cung tiến gồm:

Lê Văn Ngữ; tổng đốc;
Đỗ Xuân Can (Cẩn?);
Trần Xe Huyen (?);
Lê Văn Phả;
Nguyễn Văn Ngôn;
Lê Từ Hiếu.

Tên những người cũng tiến này được thảo và khắc lên khánh. Khánh làm liên tưởng tới hình awnhr của mặt trăng, của đồi núi; cùng với chuông và trống để tạo thành những vật dụng dùng để báo hiệu, kêu gọi.

Nghe thanh âm trong trẻo từ những chiếc khánh cũng làm tâm trạng đang sầu thảm trở nên tươi vui, kẻ u tối được soi đường mở lối.

Ở An nam, có một vật dụng dùng trang trí với hình dạng như chiếc khánh được gọi là kim khánh (khánh vàng). Kim khánh không giống như huân chương hiệp sỹ ở Âu châu, nó là một đồ trang sức mang tính danh dự mà nhà vua ban thưởng cho đại thân và các sỹ quan, quan chức ngoại bang đang phục vụ cho An nam xứng đáng được ban thưởng. Nó đi kèm với thánh chỉ của nhà vua có kèm phê chuẩn cùng ấn triện của vua hoặc qua tể tướng, hoặc là của nhà cầm quyền.



Thẻ vàng làm kim khánh có kích thước không cố định, tùy thuộc vào phẩm tước và mức độ quan trọng, nhưng không quá 1 cen-ti-mét; ở phía dưới có treo một chùm kết tua bằng lụa đỏ, xanh, vàng. Kim khánh được buộc treo bằng một sợi lụa màu đỏ. Trên mặt khánh có dòng chữ hán viết nằm ngang, xung quanh được trang trí hoa văn. (1)


(1) Kim khánh được làm bằng vàng, được vua ban cho các tướng lĩnh, quan lại phẩm lớn vì những đóng góp đối với triều đại và quốc gia. Dưới triều Gia Long và Minh Mạng, chỉ những thành viên trong hoàng tộc và quan lại có điện hàm đại học sỹ (Tứ trụ) mới được ban thưởng kim khánh. Vua Tự Đức đã thay đổi điều đó vào năm 1873, kim khánh được thưởng cho cả các quan chức cấp cao người Pháp ở Đông dương. Từ triều Hàm Nghi trở về trước Từ triều Hàm Nghi (1884 – 1885) trở về trước, kim khánh chỉ có 2 hạng: đại hạng kim khánh (kim khánh hạng lớn) và kim khánh (kim khánh hạng thường), đều làm bằng vàng 8,5 tuổi nhưng khác nhau về kích thước, trọng lượng và hoa văn trang trí. Sang triều Đồng Khánh (1885 – 1889), kim khánh được phân thành 4 hạng: đại (hạng lớn), trung (hạng vừa), thứ (hạng dưới trung bình) và tiểu (hạng nhỏ). Đến năm 1900, vua Thành Thái (1889 – 1907) quy định kim khánh chỉ có 3 hạng, đều khắc dòng chữ Hán Thành Thái sắc tứ ở mặt trước, nhưng mặt sau thì phân biệt bởi các dòng chữ Hán: Báo nghĩa thù huân (hạng nhất), Gia thiện sinh năng (hạng hai) và Lao năng khả tưởng (hạng ba). Mỗi kim khánh đều có một chùm tua kết bằng các hạt ngọc trai, mã não và cườm nhiều màu nhập từ Ấn Độ. Đặc biệt, kim khánh của triều Khải Định (1916 – 1925) thường có các chữ Hán Khải Định ân tứ hoặc Ân tứ khắc chìm và được khảm ngọc trai trong lòng chữ. Những kim khánh này được đựng trong những chiếc hộp bằng bạc, chính giữa khắc 4 chữ Hán Khải Định niên tạo và có chữ ký nghệ nhân chế tác kim khánh khắc ở phía dưới. Riêng những kim khánh vua ban cho phái nữ thì các hoa văn hình rồng được thay thế bằng hình chim phụng.

Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 138.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét