Là những tấm gỗ phẳng nhã nhặn được trang trí có khi cầu kỳ, đỉnh tròn nằm dựng đứng trên một cái đế hình vuông, chúng được sơn son với những chi tiết tâm linh được thiếp vàng; ở giữa có hai dòng chữ màu đen trên một nền giấy trắng. Dòng chữ bên phải cho biết tên họ, cấp bậc, phẩm chức của người quá cố, dòng bên trái là tên của người con trai thuộc phận sự thờ phượng.
Mộc vị phải được làm bằng gỗ cây táo (táo ta, jujubier) được chặt vào ngày lành tháng tốt. Kích thước lấy theo sách Gia-lễ : 4 đốt (pouces) chiều rộng tượng trưng 4 mùa trong năm, 12 đốt chiều cao tượng trưng 12 tháng một năm, 30 phân ( = 3 đốt) chiều dày tương ứng với 30 ngày một tháng. Thân bài vị phía trên dày 12 phân tương ứng 12 giờ một ngày(1) . Đôi khi, người ta để lên phía trên cao nhất của một vị một cái đĩa tròn nhỏ bằng gỗ dày 5 phân và cao 1 đốt gắn lên trên,
Mộc vị có 2 lỗ nhỏ ở hai bên tượng trưng cho 2 tai.
Trong tang ma, mộc vị được rước trước linh cữu, trong một cái long đình hay đặt trên linh tọa (table à offrande) mà rước đi. Vào lúc hạ quan, người con trai trưởng đến quỳ ở đuôi linh cữu, nối theo sau là anh em. Thân phụ/thân mẫu sẽ quỳ ở bên cạnh của huyệt. Người con trai trưởng nhận mộc vị một cách thành kính và kính cẩn đưa lên cao phía trên đầu mình. Vào thời khắc này, một nhân vật mà có chức sắc sẽ được lựa chọn để hoàn thiện mộc vị. Đây là nghi thức mà người ta tin rằng là cho phép một phần linh hồn người quá cố nhập vào mộc vị. Người này, thường được chọn lựa trong dòng tộc như là người có học thức và phẩm vị cao nhất, bước lên trước với một cây bút lông mực đỏ, nhận mộc vị từ tay trưởng nam, đặt nó lên trên bàn thờ vong và vẽ một nét (nét khí hoặc nét chấm) vào chữ mà vốn dĩ trước đó cố tình không viết hết. Kí tự đó nghĩa là "vương" hoặc "chủ" (roi ou maitre). Vào thời khắc đó, linh hồn người quá cố mới nhập vào mộc vị. Quan phụ mẫu (le parent lettré) kính chào mộc vị và đặt nó bên cạnh linh tọa để cho nam trưởng bái lạy.
Người ta chỉ lưu giữ mộc vị của 4 thế hệ trong nhà tính từ đời bố trở đi. Vào ngày giỗ hay ngày lễ lạt, mộc vị được xếp dịch ra phía trước của bàn thờ theo thứ tự từ trái qua phải như sau: Kỵ (trisaieul), Cụ (bisaieul, bisaieule), Ông/bà (aieul, aieule), Cha/me (père, mère).
Vào thường nhật, mộc vị sẽ được đặt trong khám thờ (étui de bois) phong kín(?)(2)
Khi một thế hệ mới được thêm vào, một nghĩa lễ sẽ được thực hiện bởi các thành viên trong gia đình. Bài vị đời cụ (trisaieux) sẽ được chôn xuống đất phía dưới bàn thờ tổ.
Các vị thần linh cũng có bài vị riêng trong các ngồi đền, tuy nhiên trên bài vị chỉ có một dòng chữ cho biết tên và phầm tước của người được thờ
(1)Người An-nam chia một ngày thành 12 giờ, mỗi giờ kéo dài 2 tiếng giờ đồng hồ Tây và được gọi là Canh. Thứ tự giờ Annam quy theo giờ Tây như sau:
(2)Chỗ này mình không hiểu lắm. Nguyên văn: les tablettes,recouvertes d'un étui de bois, sont renfermées dans une armoire spéciale. Nghĩa là đặt trong 1 cái bao bằng gỗ rồi cho vào một cái tủ đóng lại?(ND)
Nguồn: Sách Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 95.
Đọc thêm:
(*)Theo sách Thọ mai gia lễ:
... rước thần trủ để lên trác tử, rồi đề lại : ông Tằng (ông ba đời) lên làm ông Cao (ông bốn đời), ông Tổ (ông hai đời) lên làm Tằng, ông Khảo (cha Tỷ mẹ) lên làm ông Tổ.
Xong đâu đấy, người tang trủ dước thần trủ đặt lên khám đằng tây, còn bỏ trống một khám đằng đông, để đặt thần trủ mới.
Đến sáng sớm ngày hôm sau, lại làm lễ khấn, dước thần trủ mới vào từ đường, rồi đem thần trủ ông ngũ đại đi trở ở bên cạnh mộ ông ấy, thế nghĩa là ngũ đại mai thần chủ. (mai có nghĩa là chôn, mai táng- ND).
Chỉ có ông Thủy tổ đầu tiên, hay là ông khởi tổ mới phát đạt có phong tước gì đóm thì trăm đời cũng chẳng đi đâu, để thờ mãi mãi.
Nguồn: Sách Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 95.
Đọc thêm:
(*)Theo sách Thọ mai gia lễ:
... rước thần trủ để lên trác tử, rồi đề lại : ông Tằng (ông ba đời) lên làm ông Cao (ông bốn đời), ông Tổ (ông hai đời) lên làm Tằng, ông Khảo (cha Tỷ mẹ) lên làm ông Tổ.
Xong đâu đấy, người tang trủ dước thần trủ đặt lên khám đằng tây, còn bỏ trống một khám đằng đông, để đặt thần trủ mới.
Đến sáng sớm ngày hôm sau, lại làm lễ khấn, dước thần trủ mới vào từ đường, rồi đem thần trủ ông ngũ đại đi trở ở bên cạnh mộ ông ấy, thế nghĩa là ngũ đại mai thần chủ. (mai có nghĩa là chôn, mai táng- ND).
Chỉ có ông Thủy tổ đầu tiên, hay là ông khởi tổ mới phát đạt có phong tước gì đóm thì trăm đời cũng chẳng đi đâu, để thờ mãi mãi.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét