cỏ

cỏ

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2018

Bát bửu (Les huits précieux)

Bát bửu là từ bị đọc trại của Bát bảo (les huits précieux) gồm tám bảo bối được gắn trên một cái cán :
  • Một đôi sáo
  • Một đàn tì bà
  • Một lẳng hoa
  • Một cây quạt ba tiêu
  • Một pho sách
  • Một cuốn thơ
  • Một khánh
  • Một quả cầu (hồ lô) 

Không có quá khăn đẻ nhận ra ý nghĩa tượng trưng của các món đồ này. Cây sao, đàn tì bà và chiếc khánh chính là âm nhạc, là niềm hoan lạc con người hưởng thụ qua lỗ tai. Chúng đại diện cho ba trong tám  chất liệu âm thanh là: lụa, gỗ, kim loại, đất nung, tre, da và đá. Ngoài ra, chúng ta cũng thấy được rằng ngày nay khánh chỉ được lưu giữ ở trong đền chùa chứ không còn là một loại nhạc cụ trong đời sống nữa. Tuy nhiên, trước đây, nó đã từng đứng hàng trên trong các loại nhạc cụ.


Lẳng hoa tượng trưng cho sự hồi sinh của thiên nhiên sau mùa đông, sự rộn ràng của sức trẻ, niềm vui sướng mà người ta có được bởi hương sắc. Cây quạt như làn gió hiền hòa thổi đi sức nóng mặt trời mùa hạ, nó thể hiện sự duyên dáng của người phụ nữ. Pho sách là một kho tàng bất tận của mọi sự khôn ngoan lẫn tri thức trên đời sống này. Cuốn thư  tượng trưng cho văn chương.

Qủa bầu  trong văn hóa phương Đông tượng trưng cho sự dồi dào, sung túc. Các thầy lang tàu thường hay để thuốc chữa bệnh trong các quả bầu nhỏ đã được làm rỗng trước, hoặc trong các lọ bằng thủy tinh có hình dạng tương tự. Với họ, hình ảnh quả bầu mang tính chất tâm thức như một loại quả có khả năng trị liệu. Một phong tục cổ xưa mà ngày nay vẫn tồn tại ở Trung quốc, được dùng cho lễ thành thân, hôn lễ là uống cạn một nửa bôi rượu sau đó tân nương tân lang trao đổi ly rượu và uống cạn nửa còn lại. Những chiếc bôi được dùng trong lễ này được làm bằng sứ và buộc lại với nhau bởi một sợi lụa đỏ, tượng trưng cho hạnh phúc. Trước kia, bôi rược này được làm mô phỏng theo hình quả bí hoặc quả bầu vát đi một nửa.

Qủa bầu cũng là một vật mang lại may mắn. Nhiều người hoa thường đeo bên sườn trái một quả bầu nhỏ làm bằng gỗ liễu. 

Vào lễ Tết hay Tết Trung thu,  ở xứ Bắc kỳ, người ta bày bán la liệt những chiếc bùa nhỏ bằng lụa ngũ sắc: vàng, xanh lá, đỏ, trắng và xanh lục. Những chiếc bùa này được dùng bằng cách buộc vào cúc áo của trẻ nhỏ hay được đeo vào cổ. Nó được cấu thành bởi một mẩu gương tròn nhỏ, một bông hoa sen, một quả phật thủ (main de Bouddha) , một quả đào, một mẩu đá đỏ, phần lớn được cắt tạo hình con lợn con và một quả bầu.

Qủa bầu cũng được xếp là một loại nhạc cụ.

Ở mỗi ngôi làng, người ta giữ một bộ Bát bửu cũng như một bộ binh khí và Đồ lỗ bộ trong đình làng, hoặc đền, miếu thờ. 

Những vật này được chấ tạo bởi ba phương cách khác biệt:
  1.  Bằng gỗ trạm trổ, sơn thiếp;
  2. Bằng thiếc
  3.  Dưới dạng nhìn thấu được và người ta thắp nến ở bên trong

Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamiate, 1891, trang 116.


Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2018

Đồ Lỗ bộ ( Les accessoires de cortèges)

(*) Lỗ bộ, viết đúng là Lỗ bạ, đọc trại thành Lỗ bộ. Dân gian gọi là Bộ lỗ.(ND)

Trong các đám rước và các đoàn quan đi, theo sau người mang cờ là đoàn người mang Lỗ bộ. Họ đều ăn mặc giống nhau với một chiếc áo choàng sát nách bằng len màu đỏ có viền thêu và đôi khi phía trên là các họa tiết trang trí, hoa lá, đầu rồng hoặc hổ.

Chiếc áo choàng này che đậy khá vụng về sự luộm thuộm bên trong bởi vì họ thường là những cu li nghèo nàn và rách rưới được thuê với vài ba đồng trinh cho đám rước.



Cũng chính họ là người mang đến cho đám rước một diện mạo đa dạng hơn khi mà trái ngược với vẻ hoàn toàn bần hàn đó lại là những vật dụng và áo quần của sự giàu sang. 




Đồ lỗ bộ được chia làm ba nhóm: binh khí và bát bửu mà thực chất mỗi nhóm gồm tám món.

Tám binh khí bao gồm  hai long đao là những lưỡi đao dài mài vát 2 phía với đỉnh uốn cong và bo tròn. Hai tứ nhị đao cũng tương tự như long đao, nhưng có tay cầm được làm dưới hình dạng một bông hoa bốn cánh. Hai đinh ba có điểm giữa hình lượn sóng. Một cái kích hay còn gọi là bán nguyệt. Một cái kích có lưỡi sáng bóng gọi là xà mâu.

Những binh khí này như một sự hồi tưởng về những binh khí cổ xưa của người An nam. Vũ khí gươm, kiếm,... của cướp biển cũng hoàn toàn tương tự vậy, chỉ khác là chúng có phần chắc chắn hơn.

Người ta cũng sử dụng hai chiếc cờ xí gọi là  Câu thìn  và  Tiết mão. Cờ này có xuất xứ từ bên tàu, được làm bằng vải lụa hoặc lông treo trên một cái cán được trạm trổ đầu rồng.

Các binh khí nhìn chung được làm bằng gỗ có sơn son thiếp vàng, các lưỡi đao, lưỡi kiếm được sơn màu sắt rất kỹ lưỡng đến mức khó phân biệt đồ sơn và sắt thật. Người ta đôi khi cũng làm chúng bằng sắt, nhưng rất ít vì kim khí rất khó để bảo quản ở xứ Bắc kỳ này. Trong những ngôi chùa giàu có, người ta cũng thấy những binh khí bằng gỗ có kích thước tương đương nhưng không dùng trong các đám rước.

Những đồ được gọi chung là Đồ Lỗ bộ, có nghĩa là " vật dụng dùng cho đám rước" , bao gồm bốn gươm trường ( long sabre)bằng gỗ sơn thiếp. Các thanh gươm này hơi cong như gươm của Phù tang, được cầm dưới cánh tay. Hai phu việt (?)(hache, rìu) bằng gỗ.(1) Một bàn tay cầm bút lông đại diện cho quyền công dân. Một nắm đấm tượng trưng cho quyền lực quân sự (vũ thứ). Hai tấm bảng sơn đỏ viền vàng với các chứ hán "tinh tuc" và "hui ti" có nghĩa là "cung kính" và "tránh đường".

Trong các ngôi đền đạo giáo và trên các bàn thờ của các pháp sư, từ thầy phù thủy, bà cô cho đến phu đồng, bà đồng,... đều có những vật dụng đặc trưng sau: một cái cờ màu đỏ cho lễ trừ tà, năm cờ lệnh nhỏ để triệu quỷ,hai cái búa gỗ, hai đồng trinh âm-dương và hai thanh kiếm gỗ. Những vật đó được dùng để xua đuổi những linh hồn xấu khỏi thân xác những người mà nó trú ngụ gây ra thành điên dại, bệnh tật, hạn xui,...

(1) Chiếc rìu bằng gỗ là một biểu tượng lâu đời ở Trung quốc. Sách Lễ có quy định việc sơn trên vải liệm của người mất cũng như các vật dụng dùng trong đám rước đám ma và trên ô lọng phía trên linh cữu, rìu sắt không mũi mang tính ước lệ, tượng trưng rằng sự sống bị cắt đứt.


Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamiate, 1891, trang 109.

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2018

Cái võng (Le palanquin)

Généraux, officiers, guerriers, porte-étendards,
Qu'avez vous fait de votre courage?
On vous vit lâchement vous enfuir sans combattre;
Les dents serrées, l'âme prête à s'envoler de terreur,
Comme des poules chassées par une meute de chiens,
Tellement affolés, tellement éperdus, 
Que vous abandonnâtes, pour vous enfuir plus vite,
Vos sabres, vos fusils et jusqu'à vos chapeaux!
Vous avez mérité d'être accusé devant le trône!
Oserez-vous jamais monter de nouveau en palanquin?

(Những lời than thở của phụ nữ, một điệu hát bản địa được chép lại tại Hà Nội)

(*) ND - Đoạn trên mình chưa tìm thấy lời nguyên gốc bằng tiếng Việt, việc dịch lại một lần nữa ra tiếng Việt e làm mất đi nhiều phần nghĩa nên mình để nguyên tiếng Pháp theo sách cho tới khi tìm được lời gốc sẽ bổ sung sau.

Cũng như lọng, võng là một biểu tượng của uy quyền.

Võng nhà quan gồm có lưới được kết từ rất nhiều sợi dây gai mà có hai đầu mút được giữ bởi hai cái tà-vẹt hai đầu được làm bằng gỗ và sơn đen hoặc màu xanh cho các viên quan nội phủ như phu, huyện ; sơn đỏ cho các quan ở cấp trung như là Đốc học, Lãnh binh, An sát, Tổng đốc.

Lưới được buộc vào một tay đòn lớn làm từ giống tre đặc biệt có màu vàng như lông hổ mà người bản xứ gọi là tre hoa, hai đầu được bọc kim loại tôi kỹ. Hai con lân ở trên đòn tre chặn các sợi lưới chính của võng.

Một mái che rất thấp che toàn bộ võng. Mái che uốn cong và sơn thiếp, hai cánh đều có rèm vải màu và mành che.

Võng được khiêng trên vai bởi 2 người đàn ông bước đi rất nhanh có nhip điệu., hai người khác đi hầu theo sau mang theo hai cái chân đỡ võng (3 chân) để dựng võng mỗi khi nghỉ dọc đường.


Một hay vài người chạy phía trước võng, mang theo khí giới hay các vật dụng mang tính biểu tượng(1) , hay chạy lon ton bên cạnh võng với chiếc lọng che, và một đám người mang theo ống nước, khay trầu, ống nhổ,...và đi cuối đoàn là một người đi tay không.

Vợ quan An sát, quan Bổ chánh, quan Tổng đốc và các quan ngang hàng có quyền dùng võng nhà quan nhưng cái tà-vẹt trên võng không được phép làm bằng ngà, đòn tre cũng phải bị thay thế bằng một loại gỗ khác trạm trổ và sơn thiếp, mành che được trang trí bằng nhiều hình ảnh rực rỡ.

Vợ quan Huyện, quan Phủ và các chức quan khác phẩm thấp hơn không được phép dùng loại võng riêng biệt mà phải an lòng với loại võng thông dụng trong dân gian, được cấu tạo bởi một lưới vóng neo vào đòn tre và che phía trên bởi chiếu cói.

(1)Gươm hay kiếm có chuôi bằng ngà và trang trí tỉ mỉ bằng bạc, để trong bao gươm với mũi gươm giơ cao  cho các quan Tổng Đốc, Lãnh binh. Với quan Phu hay quan Huyện thì có phầm kém xa hoa hơn. Một cái gậy ba-toong lớn bằng gỗ lim kiểu cổ cho quan An sát.


Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamiate, 1891, trang 104.

Phướn,

Phướn, theo tiếng Phạn, là một lời khấn nguyện tôn giáo được viết bằng chữ hán trên một băng vải đỏ.

Dải vải này được thêu bao xung quanh nhiều màu sắc, phía trên đỉnh có đôi khi được thêu rất cầu kì, phía đuôi là một bông sen, thả xuống 5 dải chóp góc nhọn. Mỗi dải có 3 màu khác nhau.

Phướn được treo vào một thanh tre và là vật dụng bắt buộc cho các nữ tăng trong các đoàn rước.

Người ta cũng treo phướn trong các ngôi chùa, tuy nhiên với kích thước lớn hơn nhiều được làm bằng chất liệu giấy hoặc lụa. Những chiếc phướn được làm bằng lụa luôn được thuê rất công phu thể hiện các vị thần hay các ký tự mang tính biểu tượng. Trong các đám ma, những thân hữu ngoan đạo thường mang theo phướn với lời kinh tụng tới vị thần mà họ tôn kính đặt trên linh cữu hay trên nhà quan.



Những lời kinh tụng luôn bắt đầu bằng hai chữ hán , nam vu.  Từ này mang tính phiên âm từ chữ Phạn namo, có nghĩa là Xin chào (je salue, ave).

Namô Địa tạng Bồ tát
(Je salue le Boudhisatva Dia Tang)
Namô A di đà Phật
(Je salue le Bouddha Adida)
Namô Thích ca Mâu ni Phật  
(Je salue le Bouddha Tich-Ca-Mau-Ny (Cakya-Mouni)

Phướn được treo vào trượng pháp của các vị tăng ni trong các buổi trừ tà ma, làm phép. Các thầy phù thủy cũng như thầy tu bắc kỳ đều sử dụng phướn với niềm tin rằng linh hồn người đã mất có thể nhập vào phướn và làm nó di chuyển. Họ cũng tin rằng những linh hồn xấu ám trong người bệnh cũng có thể bị hút vào phướn.


Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamiate, 1891, trang 101.

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2018

Ngai Long ( La chaise à dragons)

Ngai Long là một dạng ngai vàng không chân được đặt lên trên một bục đế được trạm trổ; nó được dùng trong các ngôi chùa thờ thần hay trong miếu văn để đặt những mộc chủ mà người ta thờ phượng lên trên. Tay ngai được kết thúc bởi đầu rồng, những chi tiết mang tính biểu tượng được thiếp vàng trên một nền sơn (ta) đỏ son.

Trong một số ngôi chùa Phật giáo, các vị thần được đặt đứng trên ngai long nhưng điều đó không phù hợp với tín ngưỡng tôn giáo khi mà các vị phật thường tọa trên đài sen, các vị bồ tát đứng hay ngồi trên vách đá. Sai lầm đó một phần  do sự thiếu hiểu biết của sư trong chùa, một phần là do ảnh hưởng của Lão giáo đến Phật giáo.


Phần lớn các pho tượng được thờ phượng trong Lão giáo đều được đặt trên Ngai long, đặc biệt là các vị trên Thiên đình: Ngọc hoàng - vua của bầu trời, ở tại chòm sao Đại hùng. Ngọc hoàng thường được thấy xuất hiện cùng hai cận thần là Nam tào và Bắc đẩu , tất cả đều ngồi trên ngai mà có chuôi tay kết thúc bằng đầu rồng.

Ngọc hoàng là vị thần tối cao theo Lão giáo với sự trợ giúp chính từ Bắc đẩu và Nam tào trong việc sự. Bắc đẩu phụ trách sổ sinh, Nam tào nắm giữ sổ tử. Người An nam cho rằng Bà Liễu Hạnh là con gái của Ngọc hoàng, bị đày xuống trần gian và kết hôn với một nhà nho. Ngọc hoàng được thờ phượng ở rất nhiều đền đài xứ Bắc kỳ.

Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamiate, 1891, trang 99.

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2018

Mộc vị, mộc chủ (Tablette des ancêtres)

Là những tấm gỗ phẳng nhã nhặn được trang trí có khi cầu kỳ, đỉnh tròn nằm dựng đứng trên một cái đế hình vuông, chúng được sơn son với những chi tiết tâm linh được thiếp vàng; ở giữa có hai dòng chữ màu đen trên một nền giấy trắng. Dòng chữ bên phải cho biết tên họ, cấp bậc, phẩm chức của người quá cố, dòng bên trái là tên của người con trai thuộc phận sự thờ phượng.
Mộc vị phải được làm bằng gỗ cây táo (táo ta, jujubier) được chặt vào ngày lành tháng tốt. Kích thước lấy theo sách Gia-lễ : 4 đốt (pouces) chiều rộng tượng trưng 4 mùa trong năm, 12 đốt chiều cao tượng trưng 12 tháng một năm, 30 phân ( = 3 đốt) chiều dày tương ứng với 30 ngày một tháng. Thân bài vị phía trên dày 12 phân tương ứng 12 giờ một ngày(1) . Đôi khi, người ta để lên phía trên cao nhất của một vị một cái đĩa tròn nhỏ bằng gỗ dày 5 phân và cao 1 đốt gắn lên trên,

Mộc vị có 2 lỗ nhỏ ở hai bên tượng trưng cho 2 tai.

Trong tang ma, mộc vị được rước trước linh cữu, trong một cái long đình hay đặt trên linh tọa (table à offrande) mà rước đi. Vào lúc hạ quan, người con trai trưởng đến quỳ ở đuôi linh cữu, nối theo sau là anh em. Thân phụ/thân mẫu sẽ quỳ ở bên cạnh của huyệt. Người con trai trưởng nhận mộc vị một cách thành kính và kính cẩn đưa lên cao phía trên đầu mình. Vào thời khắc này, một nhân vật mà có chức sắc sẽ được lựa chọn để hoàn thiện mộc vị. Đây là nghi thức mà người ta tin rằng là cho phép một phần linh hồn người quá cố nhập vào mộc vị. Người này, thường được chọn lựa trong dòng tộc như là người có học thức và phẩm vị cao nhất, bước lên trước với một cây bút lông mực đỏ, nhận mộc vị từ tay trưởng nam, đặt nó lên trên bàn thờ vong và vẽ một nét (nét khí hoặc nét chấm) vào chữ mà vốn dĩ trước đó cố tình không viết hết. Kí tự đó nghĩa là "vương" hoặc "chủ" (roi ou maitre). Vào thời khắc đó, linh hồn người quá cố mới nhập vào mộc vị. Quan phụ mẫu (le parent lettré) kính chào mộc vị và đặt nó bên cạnh linh tọa để cho nam trưởng bái lạy.

Người ta chỉ lưu giữ mộc vị của 4 thế hệ trong nhà tính từ đời bố trở đi. Vào ngày giỗ hay ngày lễ lạt, mộc vị được xếp dịch ra phía trước của bàn thờ theo thứ tự từ trái qua phải như sau: Kỵ (trisaieul), Cụ (bisaieul, bisaieule), Ông/bà (aieul, aieule), Cha/me (père, mère).

Vào thường nhật, mộc vị sẽ được đặt trong khám thờ (étui de bois) phong kín(?)(2)

Khi một thế hệ mới được thêm vào, một nghĩa lễ sẽ được thực hiện bởi các thành viên trong gia đình. Bài vị đời cụ (trisaieux) sẽ được chôn xuống đất phía dưới bàn thờ tổ.

Các vị thần linh cũng có bài vị riêng trong các ngồi đền, tuy nhiên trên bài vị chỉ có một dòng chữ cho biết tên và phầm tước của người được thờ

(1)Người An-nam chia một ngày thành 12 giờ, mỗi giờ kéo dài 2 tiếng giờ đồng hồ Tây và được gọi là Canh. Thứ tự giờ Annam quy theo giờ Tây như sau:

Giờ Títừ 11h đêm tới 1 giờ sáng
Giờ Sửutừ 1h sáng tới 3h sáng
Giờ Dầntừ 3h sáng tới 5h sáng
Giờ Mãotừ 5h sáng tới 7h sáng
Giờ Thìntừ 7h sáng đến 9h sáng
Giờ Tịtừ 9h sáng đến 11h trưa
Giờ Ngọtừ 11h trưa tới 1h chiều
Giờ Mùitừ 1h chiều tới 3h chiều
Giờ Thântừ 3h chiều tới 5h chiều
Giờ Dậutừ 5h chiều tới 7h tối
Giờ Tuấttừ 7h tối tới 9h tối
Giờ Hợitừ 9h tối tới 11h đêm

(2)Chỗ này mình không hiểu lắm. Nguyên văn: les tablettes,recouvertes d'un étui de bois, sont renfermées dans une armoire spéciale. Nghĩa là đặt trong 1 cái bao bằng gỗ rồi cho vào một cái tủ đóng lại?(ND)

Nguồn: Sách Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 95.

Đọc thêm:
(*)Theo sách Thọ mai gia lễ:

... rước thần trủ để lên trác tử, rồi đề lại : ông Tằng (ông ba đời) lên làm ông Cao (ông bốn đời), ông Tổ (ông hai đời) lên làm Tằng, ông Khảo (cha Tỷ mẹ) lên làm ông Tổ.

Xong đâu đấy, người tang trủ dước thần trủ đặt lên khám đằng tây, còn bỏ trống một khám đằng đông, để đặt thần trủ mới.

Đến sáng sớm ngày hôm sau, lại làm lễ khấn, dước thần trủ mới vào từ đường, rồi đem thần trủ ông ngũ đại đi trở ở bên cạnh mộ ông ấy, thế nghĩa là ngũ đại mai thần chủ. (mai có nghĩa là chôn, mai táng- ND).

Chỉ có ông Thủy tổ đầu tiên, hay là ông khởi tổ mới phát đạt có phong tước gì đóm thì trăm đời cũng chẳng đi đâu, để thờ mãi mãi.


Trống (Le tambour)

Nó có hình dạng thể cách nhất định cùng kích thước lớn với cấu tạo gồm bụng trống phình ra được tô vẽ rất cầu kỳ bằng sơn đỏ với họa tiết hình rồng cùng mây trời màu vàng. Mặt trống làm từ da trâu đực cũng được tô vẽ màu vàng và màu đỏ. Trống được gõ bằng một cái giùi trống bằng gỗ.

(Hình nguyên bản trích trong sách)

Những cái trống mà người An-nam đặt tên là trống cái hay trống đại lược thường được treo vào giữa một vòng tròn bằng gỗ buộc vào cái giá trống, ở giữa có 36 36 mối thắt với giá đỡ.

Trống được dùng trong các ngôi chùa để gọi người Phật tử và thông báo những buổi lễ Phật; dùng ở chốn quan trường; để đánh thức hoặc để ra tiếng cảnh báo.

Nó cũng được rước theo sau quan chức trong đoán rước để thông báo đến dân chúng chức phẩm viên quan; đồng thời dùng trong chiến trận để truyền quân lệnh.

Trong mỗi ngôi làng, một cái trống tương tự được dùng để gọi giới hương sắc tụ họp tại đình làng (maison commune).

Một loại trống khác, với hình dạng tương tự nhưng nhỏ hơn, thường dùng trong các ngồi đền hay trong các phòng xử án để ra hiệu. Nó cũng xuất hiện trong các dàn nhạc, trống phẳng (tambour plat) có 1 hoặc 2 giùi trống (trống phượng?) bằng gỗ lim.  Người ta sử dụng đồng thời 2 gùi trống để đánh lên bề mặt trống hoặc lên thùng trống để tạo ra những sắc độ âm thanh khác biệt hòa lẫn vào nhau.

Phía trước tất cả các đoàn diễu hành thường có một người cầm trống khẩu (tambour à manche?),  một tay cầm trống một tay cầm giùi gõ trống.

Nguồn: sách Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 93-95.