cỏ

cỏ

Thứ Hai, 9 tháng 7, 2018

Ngũ hổ (Les cinq tigres);

Với người An nam, ngũ hổ tượng trưng cho ngũ hành bao gồm: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.

Con hổ màu vàng nằm ở vị trí trung tâm tượng trưng cho  thổ.  Nó ngồi và được nhìn chính diện, bốn con hổ khác bao quanh theo trật tự sau:

Góc trên bên phải, con hổ màu xanh dương tượng trưng cho phương Đông, mộc. 

Góc dưới phải, con hổ màu đỏ tượng trưng cho phương Nam, hỏa. 

Góc trái trên, con hổ màu đen tượng trưng cho phương Bắc, thủy.

Góc dưới trái, con hổ màu trắng tượng trưng cho phương Tây, kim.

Con hổ ở giữa, đôi khi, vuốt của nó có quặp một thanh gươm và một con dấu tượng trưng cho quyền lực. 

Người ta thường dán hoặc treo bức tranh ngũ hổ trong nhà để xua đuổi điều xấu.

Con hổ đóng một vai trò rất quan trọng trong sự mê tín ở Bắc kỳ: không chỉ hình ảnh của nó có tác dụng xua đuổi âm binh, mà việc gọi tên của chúng ra cũng làm cho tà ma bỏ chạy. Quyền lực của loài này là không tưởng.  Các lễ phù thủy xứ An nam đều lấy loài hổ như là vị tối cao trong buổi lễ. Hình ảnh của nó cũng thường được sơn vẽ lên các tấm thẻ và đặt dưới chân bàn thờ trong các ngôi đền đạo giáo.

Hổ xuất hiện trên rất nhiều bùa mà người ta đeo vào cổ, để trong phòng ngủ, trên giường, trên cửa và thậm chí là để đốt thành tro rồi uống loại tro đó. Vuốt của con hổ như một thứ bùa chú đầy quyền năng còn bộ lông của nó có công dụng chống lại nhiều loại bệnh tật khác nhau.

Các nhà chiêm tinh khẳng định rằng ngôi sao Alpha thuộc chòm sao Gấu lớn trong quá trình biến đổi đã tạo ra con hổ đầu tiên. Người Trung hoa gọi nó là vua của muôn loài. Họ cũng cho rằng trong tiếng gầm của loài hổ, có một âm là uoang , trong tiếng Hán có nghĩa là vua.  Loài hổ sống cả ngàn năm, khi đạt đến con số năm trăm tuổi, nó chuyển màu lông sang trắng.

Phía bầu trời mà người ta gọi là Bạch hổ là vùng mặt trời mọc vào mùa xuân ở Trung quốc. Đó cũng là vùng có chòm sao Bạch dương và Kim ngưu. Có lẽ chúng ta nên xem đó như là lí do của sự tôn sùng loài hổ ở phương Đông như là một biểu tượng của sức mạnh niềm tin và chiến thắng của mặt trời mùa Xuân.


Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 55./

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2018

Bát quái,

Bát quái là một họa đồ gồm tám quẻ, mỗi quẻ gồm 3 nét được tạo ra bởi Phục Hi để thay thế cho các sợi dây (les cordelettes nouées), tương tự như văn tự dây rút của người Pê-ru, mà người cổ đại dùng chúng để ghi lại đời sống trước khi có sự xuất hiện của chữ viết.

Yếu cố cơ bản cấu tạo nên bát quái là hai đường: một là nét liền ứng với quẻ âm, hai là nét đứt ứng với quẻ dương. Chúng đều mang tính tượng hình tạo thành dựa trên tính đối ngẫu hai mặt mà đã được nói đến ở Đại Cực Âm Dương. 

Thẻ dương là tất cả những gì mang tính chất phụ thuộc, thụ động, nhỏ, hướng nội, yếu ớt; là bà mẹ trong gia đình, là bề tôi, là mặt đất.

Thẻ âm là tất cả những gì đối nghịch. Nó đại diện cho sự hoàn mỹ, là bầu khí trong lành,  là không trung, là bầu trời, là quyền lực, là chuyển động, là những thứ thuộc về nam giới, vua chúa, là người cha trong gia đình,...

Sự biến đổi lần lượn của 2 thẻ này tạo thành một quẻ 3 nét cấu thành nên tám quẻ mà người ta gọi là Bát quái.

Tám quẻ tương ứng với bát phương (1) , tám vía, bát âm, tám bộ phận cơ thể, tám chủng loài... (2)

Theo bát quái của Phục Hi, các quẻ được gọi tên lần lượt như sau: 
Kiên (càn) -  thiên/ trời ; Đoài - trạch, đầm, hồ bắt nguồn từ núi ; Ly - lửa ; Chấn - lôi, sấm ; Tốn  - mặt đất ; Khảm - núi đồi ; Cấn - sơn, núi và Khôn - gió.

Từ tám quẻ ban đầu, Phục Hy tạo thành 64 quẻ mà được ông viết trong Diệc Kinh, cuốn sách về sự biến chuyển.

Có hai họa đồ được gọi là Bát quái, trong họa đồ số 1 (hình 15) các quẻ được xếp theo thứ tự được liệt kê như trên. Trong họa đồ số 2 (hình 16) được gọi là Bát quái Văn Vương, các quẻ bị đảo thứ tự.

Người An nam trang trí nhà với Bát quái nhằm có được sự che chở từ các nhà hiền triết vĩ đại Phục Hi và Văn Vương. Các nhà chiêm tinh hoàng gia cũng dùng Bát quái để đưa ra những lời tiên đoán.

(1) Bát phương gồm: Bắc, Nam, Đông, Tây, Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam
(2)Người An nam cho rằng những thứ chính tạo bởi số tám như sau:
Tám giai đoạn trong một năm: Lập xuân, Xuân phân, Lập hạ, Hạ chí, Lập thu, Thu phân, Lập đông, Đông chí.
Tám vạt liệu tạo âm: Hồ lô, Đất nung, Da, Gỗ, Đá, Kim loại, Lụa, Tre.
Tám vị thần được tôn thờ: Thần bầu trời, Thổ thần, Thần chiến tranh, Thần quản nam giới, Thần quản nữ giới, Thần mặt trăng, Thần mặt trời và Thần bốn mùa.

Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 52./

Ngũ phước ( Les cinq bonheurs)

Ngũ phước bao gồm: Phúc, Qúy, Thọ, Khanh (Khang), Ninh; nghĩa là " hạnh phúc, giàu sang, sống lâu, khỏe mạnh và ổn định. Nhiều học giả không xếp chữ Phúc đi cùng bốn chữ còn lại bởi theo họ, hậu vận của bốn chữ còn lại (Qúy, Thọ, Khanh, Ninh) đưa đến khảo chung mệnh (chết một cách an bình do tuổi già chứ không phải do bệnh tật hay tai nạn).

Ngũ phúc được thể hiện qua hình tượng năm con dơi quây tạo thành một vòng tròn với sải cánh trải rộng, đôi khi có răng ngậm một chiếc nhẫn. Người ta chưa tìm ra lý do tại sao mà người Trung hoa lại dùng hình ảnh con dơi tượng trưng cho phúc, có thể chỉ đơn giản bởi vì chữ phúc và con dơi trong tiếng hán có cùng âm đọc.


Biểu tượng này thường được dùng để trang trí đầu hồi hay trán tường. Các tấm màn trướng cũng được thêu họa tiết này. Trẻ em thường đeo mặt dây ngũ phúc vào cổ, mặt dây có hình một hay nhiều con dơi được chế tác bằng bạc.

Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 50./

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2018

Con Phượng ( Le Phenix),

Phượng hoàng, loài chim huyền thoại đứng thứ hai trong Tứ linh, chỉ hiện ra trước mặt những người mà được nó thông báo cho sự đăng quang trở để trở thành một nhà hiền triết lớn hay xưng vương. Nó thường đứng trên cây Ngô đồng ( cây vông trong tiếng An nam và hót.
Từ thời Khổng tử, Phượng hoàng chưa từng xuất hiện thêm lần nào.

Lông đuôi của loài phượng hoàng gồm năm cọng với năm màu khác nhau: đò, trắng, đen, vàng và xanh lơ tượng trưng cho ngũ đức.

Các học giả khẳng định rằng phượng hoàng nửa trước có hình dạng một con ngỗng giời, nửa phía sau của loài long mã. Nó có thanh quản của loài chim nhạn, cái mỏ gà, cái cổ của loài rắn và đuôi của một con cá.

Đầu của Phượng hoàng gần giống với đầu loài hạc, phía trên có mào lông. Mình nó dài năm tấc(?)( 5 coudées - ND: coudée : đơn vị đo lường ngày xưa, 1 coudée = 50cm). Nó cũng yêu kiều như loài rồng. Trên thân phượng hoàng con vòm như loài rùa với bộ lông ngũ sắc, cái đuôi xếp tầng còn tiếng hót của nó líu lo như ngũ nhạc.
Trên đầu loài phượng là đức hạnh, trên mình nó là lòng từ bi, sự trung thành ở trong tâm và trên sải cánh là công lý.

Chim phượng trú ở những nơi là nơi giao hòa của ngũ đức (1) . Nó là đại diện cho thế giới vẹn toàn: Đầu là bầu trời, mắt là mặt trời, lưng là mặt trăng, sải cánh là gió, bàn chân là mặt đất và cái đuôi là các tinh cầu.

Chim phượng rất phổ biến trên các hoa văn họa tiết thêu ở xứ An nam

(1) Ngũ đức gồm: Nhân, Lễ, Nghĩa, Chí, Tín.
Người An nam cũng như người Hoa có rất nhiều thứ được nhóm thành con số năm.
Ngũ phương: Bắc, Nam, Đông, Tây, Trung tâm
Ngũ hành: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ.
Năm hình phạt:  la cangue, la batstonnade, le bannissement, la transportation à vie, la mort
Ngũ tượng: mưa, đẹp trời, nóng, lạnh, gió.
Ngũ kim: vàng, bạc, đồng,thiếc, sắt.
Ngũ thư, nền tảng của tất cả nền văn hóa Trung hoa: Diệc Kinh, Lễ Ký, Sử Kinh, Thứ Kinh và Xuân Thư.
Ta cũng có ngũ âm, ngũ quả, ngũ sắc, ngũ vị, ngũ tinh, ngũ phúc,...
Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 47./

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2018

Con Hạc trên con Rùa (La grue sur la Tortue)

Con hạc cưỡi trên lưng con rùa là một biểu tượng về sự trường thọ mà ta thường bắt gặp trong các ngôi đền thờ Khổng tử, thờ vua chúa hay các vị thần. Trong các ngôi chùa Phật giáo, người ta không trông thấy biểu tượng này. 

Loài rùa, như đã biết, sống hàng chục ngàn năm còn loài hạc sống hàng ngàn năm. Bởi vậy, việc kết hơp hình ảnh của cả hai loài mang đến thông điệp rằng: Tâm thức và việc thờ phượng là bất diện, tồn tại mãi hàng ngàn, hàng chục ngàn năm. Thông thường, rùa và hạc được làm bằng gỗ sơn thiếp trạm trổ. Đôi khi, con hạc được làm bằng gỗ và đứng trên con rùa bằng đá.


Trong nhiều ngôi đền lộng lẫy thờ vua chúa như là ở Hoa lư, kinh đô cũ cua nước Đại Việt, cái cổ dài của con hạc được làm uốn đi ra từ kèo cột có trạm trổ và sơn thiếp với cái đầu dường như đang đội mãi lên.

Người An nam đúc đồ đồng Con hạc cưỡi con rùa. Con hạc ngậm một cành hoa sen có khoét rỗng để có thể thắp nến. Vật dụng này được bày lên bàn thờ gia tiên.

Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 34./

Con rùa (Quy, La tortue);

Rùa là loài đứng đầu trong Tứ linh bao gồm: Rùa, Phượng hoàng, Rồng và Long mã.

Người ta thường vẽ hình ảnh con rùa mang trên lưng một pho sách tượng trưng cho Lạc thư và ngậm trong miệng ngọc nước (branche de corail, rong biển).

Người An nam coi rùa là biểu tượng của sự trường thọ. Con rùa đã giùm Bàn Cổ, vị thần khai thiên lập địa khai sáng thế giới. Nó có cái lựng gồ lên tượng trưng cho bầu trời, bụng phẳng tượng trưng cho mặt đất.

Sách Lễ ký có chép đi đầu trong các đoàn rước hoàng gia là một lá cờ xí bằng lụa lớn màu đen có thêu hay tô vẽ một con rắn và một con rùa bởi vì chúng có thanh âm có thể xua đuổi nguy hiểm và mang đến điều tốt.

Một cái cờ tương tự phấp phới ngay sau đó gọi là cờ xí Trấn Vũ. Trong niềm tin nguyên thủy của người Hán, các phương Bắc, Nam, Đông, Tây được trấn giữ bởi các vị thần riêng, trong đó Trấn Vũ chấn giữ phương Bắc và con rùa cùng con rắn được dùng để dâng tế Trấn Vũ.

Trấn Vũ là một vị thần trong văn hóa Trung hoa được người An nam tôn lên làm một trong bốn vị thần trấn giữ Hà Nội. Trấn Vũ là vị thần lớn chấn giữ phương Bắc kiêm quản các loài thủy tộc, vì vậy tượng thờ ở Hà Nội thấy ngài có con rùa dưới chân và con rắn quấn quanh lưỡi kiếm.

Rùa được dâng tế vào lễ tế mùa xuân. Ngoài ra, nó cũng mang tính biểu tượng: ở miền Bắc Trung quốc, những con rùa ngủ đông và thức dậy vào mùa xuân như là buổi bình minh của đời sống. Vì vậy vào thời điểm này trong năm, họ thường tặng nhau con rùa (1) (tortue au ciel - ND: có vẻ là tên một giống rùa, mình chưa tra được là giống rùa gì trong tiếng Việt cũng như tên khoa học).

Sự thờ phượng loài rùa có nguồn gốc từ Đạo giáo Trung hoa. Người Tàu đưa hình ảnh con rùa biểu trưng vào trong nhiều ngày lễ khác nhau. Họ tặng nhau những chiếc bánh làm theo hình con rùa như một sự tưởng niệm về cái tục cúng tế cổ xưa. Ở Bắc kỳ, việc này chưa từng được ghi nhận.

(1) Theo Schlegel, bởi loài rùa có ngủ đông, nên nó mang ý nghĩa của việc dừng sự sống đang có. Thêm nữa, trong cuốn Thiên văn học Trung hoa ông có ghi lại rằng chòm sao cự giải (constellation de la Tortue) có từ 18,000 năm trước và chiếm giữ một phần tư bầu trời, nó "đạt vị trí cao nhất vào thời khắc chuyển giao của mùa đông". (chép bởi Groot, cuốn Lễ hội được tổ chức hàng năm ở Emoui (Les fêtes annuellement célébrées à Emoui)). 
Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 32./

Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2018

Long mã ( Le Cheval-Dragon),

Long mã là con vật thứ hai trong Tứ linh.

Trong bài viết trước, chúng ta đã biết thứ mà nó mang trên lưng là những ký hiệu mà từ đó Phục Hi đã đồ ra Hà Đồ rồi từ đó soạn ra những ký tự, chữ viết đầu tiên được biết đến.

Vì lẽ đó, người ta thường vẽ Long mã với cuốn thư nằm trên lưng với hàm ý nó mang tới thế giới này nền văn minh qua những cuốn thư, một biểu tượng mang tính triết học cao.

Một số truyền thuyết địa phương kể rằng Long mã từ trên trời xuống. Nó có cái đầu của loài rồng và thân của loài ngựa, với các vảy bọc toàn thân. Người An nam dám cá rằng Long mã yêu mến muôn loài đến nỗi mỗi bước chân của nó đều rất dè dặt tránh làm tổn hoại đến các loài khác, dù là loài côn trung nhỏ bé nhất. Thậm chí cả cỏ cây nó cũng không bao giờ ăn khi chúng còn non.

Một cái tên khác của Long mã là Kỳ lân (licorne). 


Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du cultes chez les annamites, 1891, trang 30./