Cây thần trượng hay còn gọi là trượng của Địa tạng. Đó là cây trượng của các sư thầy, được họ cầm theo trong các dịp lễ lớn dùng để trừ tà ma.
Truyền truyết kể rằng thân phụ của Địa tạng bị đọa vào địa ngục, con trai họ muốn tìm cách cứu họ ra. Ông đã ẩn sơn, học tập, tụng kinh và tự hành xác mình. Khi mà ông đạt tới cảnh giới cao nhất, ông đã tiến đến cửa địa ngục và gõ cửa ba lần từ bên ngoài bằng cây trượng mang theo. Cây trượng này phía trên đỉnh là một vành tròn bằng đồng được xâu nhiều vành tròn khác cùng kim loại. Cửa địa ngục mở ra và cha mẹ của Địa tạng được ra khỏi đó.
Từ đó trở đi, cuối mỗi dịp Tết hàng năm, các sư thầy tổ chức một buổi lễ mà người ta gọi là lễ "mở cửa địa ngục" nhằm mục đích siêu thoát những linh hồn được cầu tụng hay làm lễ tế sinh trong suốt năm; khi đó để tưởng nhớ tới việc giải cứu cha mẹ khỏi địa ngục của Địa tạng, sư chùa sẽ dùng cây trượng của họ như một nghi thức tôn giáo.
Truyền truyết kể rằng thân phụ của Địa tạng bị đọa vào địa ngục, con trai họ muốn tìm cách cứu họ ra. Ông đã ẩn sơn, học tập, tụng kinh và tự hành xác mình. Khi mà ông đạt tới cảnh giới cao nhất, ông đã tiến đến cửa địa ngục và gõ cửa ba lần từ bên ngoài bằng cây trượng mang theo. Cây trượng này phía trên đỉnh là một vành tròn bằng đồng được xâu nhiều vành tròn khác cùng kim loại. Cửa địa ngục mở ra và cha mẹ của Địa tạng được ra khỏi đó.
Từ đó trở đi, cuối mỗi dịp Tết hàng năm, các sư thầy tổ chức một buổi lễ mà người ta gọi là lễ "mở cửa địa ngục" nhằm mục đích siêu thoát những linh hồn được cầu tụng hay làm lễ tế sinh trong suốt năm; khi đó để tưởng nhớ tới việc giải cứu cha mẹ khỏi địa ngục của Địa tạng, sư chùa sẽ dùng cây trượng của họ như một nghi thức tôn giáo.
Cây trượng này không khác gì cây trượng Fo (ND - nguyên gốc) của các bồ tát Trung hoa, cây trượng của Đức phật mà vốn dĩ người An nam không rõ về sự tích của nó. Trong Fo-Kouo-Ky có nói thành phố Hi-Lo nằm ở biên giới giữa Afghanistan và vùng đất Do thái, có một cây trượng của Đức phật được đặt trong một ngôi đền đặc biệt lưu trữ thánh vật này. 'Trượng được đặt trên một cái đầu bò bằng gỗ đàn hương, dài 6 đến 7 thước. Người ta đặt nó vào trong một cái ống bằng gỗ mà phải mất cả trăm thậm chí cả ngàn người mới rút ra được."
Cây trượng là một vật bất li thân cho những thầy tu đi hành khất, gọi là cây trượng của đức tin, của sự khôn ngoan, của thanh âm bởi vì âm thanh do những vành kim loại trên đầu trượng va vào nhau tạo thành. Có một loại Sy trương kinh (? ; rituel du bâton) mà được truyền miệng nhau là phải được làm bằng thiếc vì đó là kim loại nhẹ nhât; ở đây ta thấy người ta làm trượng cả bằng đồng, xung quanh những vành tròn được khắc chữ Phạn.
Các thầy chùa cùng các thầy phù thủy đều đuổi ma quỷ bằng một cây vương trượng bằng đồng; đó là một biểu trưng cho Đại Thế Chí Bồ tát (Vadjrapani), người cầm vương trượng kim cương.
Trong các đám rước, các thầy chùa đi tay cầm cây trượng, phía trước họ sẽ là trống, mõ, trống cái cùng một số nhạc cụ khác để tạo thành một âm thanh tương đối hỗn độn; đi đầu của đoàn rước đôi khi là một nhạc cụ khá kỳ lạ mà người ta gọi là cái-bàn-nhạc gồm nhiều quả lục lạc. Nó được tạo bởi hai mặt gỗ có chiều dài không tương xứng gối vào nhau. Dọc theo chiều dài, người ta treo thành ba hàng những chiếc lục lạc bằng đồng với đủ kích cỡ cho mỗi mặt gỗ, rồi họ vỗ tấm này vào tấm kia để tạo nên thanh âm hòa cùng với các nhạc cụ khác.
Cây trượng là một vật bất li thân cho những thầy tu đi hành khất, gọi là cây trượng của đức tin, của sự khôn ngoan, của thanh âm bởi vì âm thanh do những vành kim loại trên đầu trượng va vào nhau tạo thành. Có một loại Sy trương kinh (? ; rituel du bâton) mà được truyền miệng nhau là phải được làm bằng thiếc vì đó là kim loại nhẹ nhât; ở đây ta thấy người ta làm trượng cả bằng đồng, xung quanh những vành tròn được khắc chữ Phạn.
Các thầy chùa cùng các thầy phù thủy đều đuổi ma quỷ bằng một cây vương trượng bằng đồng; đó là một biểu trưng cho Đại Thế Chí Bồ tát (Vadjrapani), người cầm vương trượng kim cương.
Trong các đám rước, các thầy chùa đi tay cầm cây trượng, phía trước họ sẽ là trống, mõ, trống cái cùng một số nhạc cụ khác để tạo thành một âm thanh tương đối hỗn độn; đi đầu của đoàn rước đôi khi là một nhạc cụ khá kỳ lạ mà người ta gọi là cái-bàn-nhạc gồm nhiều quả lục lạc. Nó được tạo bởi hai mặt gỗ có chiều dài không tương xứng gối vào nhau. Dọc theo chiều dài, người ta treo thành ba hàng những chiếc lục lạc bằng đồng với đủ kích cỡ cho mỗi mặt gỗ, rồi họ vỗ tấm này vào tấm kia để tạo nên thanh âm hòa cùng với các nhạc cụ khác.
Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du
cultes chez les annamites, 1891, trang 166.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét