Mấy nay trời cứ làm mưa. Lúc lớn lúc nhỏ. Khi không mưa thì trời lại mù sương. Từ Tết tời giờ rồi, chẳng mấy khi mà được hửng nắng.
Trời cứ làm mưa mãi. Đất trời âm u một màu. Đến lạ. Lòng mình cũng cảm thấy âm u tĩnh lặng hơn, như chính tấm gương phản chiếu vòm trời kia vậy.
Có nhiều khi đi trên phố, mưa chợt đến chợt đi, ướt nhòe trên đôi mắt kính. Mình lại chợt nhớ một năm nào đi coi Miss Xây dựng. Chương trình cũng vào buổi tối, và trên đường về trời làm mưa bụi bay. Mưa bụi, thứ mưa cứ dai dẳng mãi không thôi, dù cho đứng dưới mái hiên con người ta cũng không thể tránh khỏi ướt áo. Từng hạt bụi lững lờ, trọng trên tròng mắt (hồi đó không đeo kính), rồi vỡ òa tỏa ra tạo thành chiếc lăng kính chiếu lại thứ ánh đèn đường thành lung linh nhiều sắc màu. Mình vẫn nhớ rõ, tối hôm ấy bước chân mình lặng lẽ, trầm ngâm; mưa và gió mang mác. Một mình. Xung quanh vẫn huyên náo khôn cùng.
Buổi tối, khi mọi nhà đã tắt đèn, chó cũng đã ngủ yên trong ổ, mình nằm và nghe thấy tiếng mưa rơi nhỏ giọt trên mái. Thanh âm của sự ảm đạm hay là sự sống đang sắp hồi sinh? Mình cũng không biết nữa. Chỉ nằm im nghe giai điệu của những cơn mưa ấy, hạt nặng, hạt nhẹ rơi trên mái. Đã bao năm rồi, mình vẫn nằm nghe thứ thanh âm muôn đời bất biến.
Có một lần trên đường từ trường về. Trời bất chợt đổ cơn mưa rào. Đó là một buổi chiều oi oi chuyển mùa. Nắng vàng ươm. Chạy vội lên xe bus để trốn cơn mưa, người mình vấy ướt đôi chút. Đi giữa đường thì mưa dừng, và nắng lại nổi lên. Vàng hơn bao giờ hết. Đúng lúc đó, mình ngước nhìn qua cửa kính xe bus nhìn lên trên, những lá bàng non sau mưa có nắng chiếu qua, ánh lên một màu xanh tươi mới đẹp khôn cùng. Lúc đó, mình cứ ngẩn ngơ nhìn mãi không thôi, tưởng chừng như cơn mưa dai dẳng trong lòng tự tắt từ thủa nào. Nhựa sống đó, mình mãi chẳng thể nào quên. Nhưng lại không biết cách nào để duy trì mãi.
Tết này mình có làm một việc mới mẻ, mang không khí Tết về hơn một chút. Mình cố gắng tranh thủ về quê sớm hơn, để ngồi nơi vỉa hè chợ Xuân bán vài ba tranh Tết. Mình nhớ tới bố trong những câu chuyện xưa mình thường được nghe, bố mẹ đã phải từng thuê vỉa hè để bán hàng. Nay mình cũng vậy, ngồi vỉa hè để bán hàng. Có điều khác là không phải bán để mưu sinh, mà bán với mong muốn mang Tết về cho mình, cho mọi người. Mình những muốn mỗi người đi qua, người già, trẻ nhỏ...ghé qua coi tranh chiếu mình một chút, chẳng cần mua, dăm ba câu chuyện vui cuối năm, vậy cũng đủ lắm. Nhưng mong muốn chưa thành, thôi thì nó sẽ là tiền đề cho lần sau sẽ khác. Hãy cứ tin là như vậy.
Tết đã qua quá nửa tháng. Bồn hoa nhỏ ở công ty mình vẫn hay để í, có chăm đôi chút, mấy khóm hồng đã chết tự thủa nào; cây hồng leo ra hoa được một khóm rồi đó nay chỉ còn mọc lá cành tốt tươi. Hai chậu hồng trồng ở nhà nay thấy có dấu hiệu chết yểu. Có mỗi giò lan đang thấy ra rễ. Mọi thứ vẫn chuyển động từ từ quanh mình. Có chăng là vì mình đứng im nên mới nhận ra. Vì nào còn ai thấy đâu?
Đôi khi mình những muốn, cơn mưa này hãy mang mình theo luôn đi, để dòng ký ức chẳng thể đọng lại.
cỏ
Thứ Năm, 13 tháng 2, 2020
Thứ Tư, 10 tháng 7, 2019
Một ngày tháng 7 trời có mưa,
Hôm nay trời trong gió mát, chẳng hiểu sao lòng lại có chút chưng hửng.
Cảm giác một cái gì đấy trống rỗng, như chiếc hộp phong kín, tối đen ở bên trong. Muốn xem liệu nó có gì, mà tối đến nỗi, không nhìn thấy nổi.
Những bộ quần áo cũ, mặc đã chật đi nhiều phần. Không phải vì chúng nhỏ đi, vẫn là size chuẩn cho mình đấy, chẳng qua tiểu tiết làm cho toàn cục trở nên đảo điên. Chiếc quần jean yêu quý, không phải vì nó là món đồ mắc tiền hay vì mình mặc hợp nhất, mà vì nó đã cùng mình đi qua những tháng năm rực rỡ. Thuở ngập những nỗi niềm trăn trở, nhưng cũng đầy nắng gió và hoa. Rất nhiều lần mình lôi nó ra, rồi lại cất đi vì không nỡ mặc. Sợ mòn, sợ phai, sợ những kỷ niệm cũng nhòa cùng năm tháng. Nay lúc thay quần ra, thấy trời ơi sao chật quá. Ngay đến cả chiếc áo sơ mi dài và rộng đến vậy, thế mà cũng kích kích phần lưng. Chật ơi là chật, khó chịu ơi là khó chịu. Nhưng sao mỗi khi xỏ vào, lòng cứ hoài rộn ràng đến vậy.
Tan làm, mình đến phòng gym, cố gắng tập một chút. Rồi phóng xe về nhà, đá một bán bún bò thay bữa tối. Ở nhà có mình ên, cơm nước cũng chẳng màng.
Mình ngồi trong sân, đập từng viên đất nhỏ, vỡ vụn ra, từng hạt đất rơi luồn qua kẽ tay, rồi thả dần vào chậu, trộn thêm cùng cát, trồng hoa tóc tiên. Mình vẫn nhớ những ngày tuổi nhỏ, hồi ấy bé, bé lắm. Hồi ấy mình còn chưa cắp sách tới trường, chỉ biết nhìn theo mọi người mà thèm muốn đi học. Có năm hậu khai giảng, trường tiểu học Ba Đình gần nhà mình có tổ chức cắm trại trong công viên gần nhà. Buổi sớm hôm tan trại, mình chạy vội ra xem, những lều đã rút cả, chỉ còn lại những bông tóc tiên hồng thắm dưới những gốc phi lao già. Trời mùa thu trong xanh quá. Những năm tiểu học, cứ mỗi độ khai trường, tóc tiên dọc khắp những lỗi đi trong sân trường cũng khoe sắc rực rỡ. Có những lần, mình ngẩn ngơ hái chúng mang về nhà cắm, vì không kiềm nổi nỗi yêu màu hoa ấy, nhưng chỉ được trong ngày hoa đã vội tàn ngay.
Ngồi trong căn nhà một mình, mình cảm thấy tĩnh lặng xung quanh. Không gian đặc quánh làm sao, cảm chừng như, không thanh âm, không một thứ ánh sáng nào có thể truyền đi trong môi trường này được nữa. Tâm tư như tơ vò...Chỉ còn những tĩnh lặng trải dài.
Thứ Tư, 19 tháng 12, 2018
Vẫn chỉ ở đâu đây,
Mấy nay trời ấm lên, không còn vừa mưa dầm dề vừa rét mướt như một tuần trước nữa.
Tầm giữa trưa với đầu chiều, trời nắng, có phần nóng với chút gió mát thổi hây hẩy như trời mùa hè. Những ngọn gió như vậy thổi giữa mùa đông, vốn từ nhiều năm nay chẳng còn lạ lùng, khi mà mùa đông đang dần biến mất.
Nhưng, điều làm mình lưu ý, đó chính là tiết trời này, thật giống với tiết trời những ngày giáp Tết vài năm trở lại đây. Thời tiết biến đổi khôn lường. Không còn là mưa xuân rả rích dầm dề rét mướt nữa mà thay vào đó là cái lạnh lúc sáng lẫn khi chiều về, để rồi trưa chiều hửng nắng gió Nam thổi lãng đãng trên những chợ Xuân rộn ràng. Sống giữa tiết trời này, làm mình nhớ Tết quá. Cũng sắp rồi, hơn tháng nữa thôi.
Mình nhớ những Tết đã qua, khi tâm tư mình còn mộc mạc quá đỗi. Khi mà nhà cửa còn nhiều xốn xang háo hức cùng nhau chờ đón năm mới đang về. Chỉ cần một bộ quần áo mới, cắt một mái tóc gọn, dăm ba khay bánh mứt, chút nước non cùng cành đào cây quất, vậy là Xuân đã về vui vẻ lắm. Nay áo sống chẳng muốn chỉnh tề, tóc tai lòa xòa rủ,... nhưng Xuân vẫn đang về đấy. Xuân đang về cả ở trong lòng với bao hồi tưởng vì một vòng lặp nữa đang sắp khép lại rồi. Dẫu cho bao sự được mất là một đường thẳng chạy mãi, thì cái vòng quay bốn mùa vẫn quay trở lại để lòng mình nhớ nhung thêm.
Qủa thực, mình thấy mình vẫn còn trẻ nhỏ, nhỏ lắm. Vẫn háo hức chờ đón Tết dù cho trong niềm hân hoan ấy nay đã lẫn nhiều hờn trách buồn tủi lẫn lo âu, nhưng vẫn chờ lắm thế. Chờ được nhìn thấy một ngày mới đầy rạng rỡ. Để trong tiết Xuân ấm áp ấy, mình thấy mình đi giữa phố phường thân quen tĩnh lặng, được như lội ngược đời sống trở thành một đứa trẻ vô âu lo, đơn giản là đến với cuộc đời này trong niềm hân hoan và chiêm bái.
Mình chợt nhớ đến một cái Tết năm nào mất điện. Bố và chị gái đã về nội ăn Tết từ hôm mùng 2, cả ngày mùng 3 Tết cúp điện. Hai mẹ con ngồi nhà, ra vào, không tivi, không nhạc nhẽo, nhìn nhau. Rồi đi ra hàng ăn bữa trưa, bánh khoái tép, bánh tôm,.. Cho đến khi trời trở về chiều vẫn chẳng có điện, ngày Tết đường xá vắng hiu, đèn đường lười nhác bật, bóng tối thì xuống mau cùng những cơn gió lạnh cuối ngày thổi mạnh. Mẹ mới nói qua bên bác cả ăn cơm. Thế là đi. Lúc trở về, điện đã có từ thủa nào. Mở vội tivi, xem những chương trình ngày Tết. Niềm vui, chỉ đơn giản thế thôi.
Hay như năm nào ngày Tết mình trở bệnh. Bố và chị gái về nội ăn Tết về mình vẫn ốm. Bố ngồi ôm mình trong lòng, khi mà hồi đó nhà còn chưa sửa hay xây lại như giờ , chiếc bàn nước chân sắt cũ kỹ cùng chiếc ghế đôn ngồi quay mặt ra đường. Chiếc bàn cũ hỏng đến nỗi dù đã thử gia cố nhiều lần, nhưng cuối cùng cũng phải bỏ đi một ngày trời đẹp năm nào. Ngoài phố trời chiều vàng ươm đến lạ, tiếng cười đùa của lũ trẻ râm ran, cùng với tiếng pháo nổ đì đùng.
Hồi sáng, xem lại đống ảnh cũ, bỗng thấy ảnh em mèo mình nuôi một thủa. Nó đã bỏ đi mà không một ai có thể trách cứ. Không biết đó là ngày nào. Chỉ đơn giản là chẳng còn nhìn thấy được nhau. Vậy mà nay bỗng lại thấy lại. Suy cho cùng, sự đi rồi nhưng vẫn chỉ ở đâu đây.
Thứ Hai, 20 tháng 8, 2018
Gió đang lặng, và cây đang đứng im.
Sáng nay ngủ dậy với đầy uể oải, chợt có phần thần người lại, khi một lần nữa nghe thấy tịnh mịch quanh mình. Thanh âm của cuộc sống trôi dạt đâu xa quá đỗi.
Hôm nay tôi bỗng nhớ cồn cào những con đường của vùng Vandoeuvre-lès-Nancy cùng phía ngoại ô La Sablière của mùa xuân năm ấy. Những con đường quê vùng ôn đới với đầy cỏ xanh và những loài hoa trái dại vào mùa xuân rực nở. Có một mảnh đất hoang có cỏ phủ đầy, trồi lên đấy những bông tulip tươi thắm mọc rải rác mà có lẽ từng một mùa xuân nào đấy tại nơi đây là khu vườn đầy hoa thơm; nay chỉ còn lại những củ tulip nằm sâu dưới mặt đất mỗi năm đến độ lại trồi lên đơm hoa. Có những bậc thang bằng gỗ có màu thời gian để bước lên xuống những triền dốc, cỏ và những bông hoa anh thảo chen lấn nhau. Có những bóng đoạn lá nhỏ rủ xuống lòa xòa trong gió, những bông hoa li ti phả ra mùi hương dịu nhẹ thơm mát. Có những bông hoa thủy tiên, hoa diên vỹ suốt dọc những lối đi. Và cả một mùi hương thoang thoảng của loài oài hương tím biếc. Những con vịt giời lại về bơi lội trên mặt hồ, dưới những bóng cây rẻ quạt. Cây phong lại đâm chồi. Tử đinh hương tím ngắt trong sân ký túc. Những cây mơ, cây mận hoa rực nở một vòm trời mà khi đứng dưới vòm cây ấy, cam giác như thân phận chợt tan biến vào hư không. Trên đôi giày Geox da lộn màu nâu sậm yêu thích mà theo thời gian đã hư mòn đến độ phải vứt bỏ, từng bước chân tôi sải qua những nẻo đường, miệng lẩm nhẩm đôi câu của vài bài hát mà ngày ấy tôi còn đang say đắm: ' Khi xưa em gầy gò, đi ngang qua nhà thờ, trông như con mèo khờ, chờ bàn tay nâng đỡ. Ta yêu em tình cờ, như cơn mưa đầu mùa, rơi trên sân cỏ già, làm rụng rơi cánh hoa.'; 'Đưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa. Như mưa đời phất phơ, chắc ta gần nhau chưa?". Tòa lâu đài Montaigu mà phía sau có những bức tượng thiên thần phơi nắng phơi mưa, trong những cơn nắng vàng nhạt đấy, tôi ngẩn ngơ ngắm nhìn.
Lại nhớ tới cây táo hoang nơi triền dốc cây cầu vượt cạn sai trĩu quả mà ngày nào anh em cùng nhau thu hái những bị đầy mang về, đeo cả những balo hay túi kéo đi chợ để tiện cho chứa đựng, liệu những trái nặng kia có làm cho cành gãy đổ? Còn có ai ra đó mà hái những trái thơm mang về, hay là cứ để chúng rụng rơi xuống mặt đất khô lạnh và đầy những loài sâu đất rỉ rích gặm nhấm đêm ngày? Ngày đó, trên những con đường từ gốc táo dại trở về ký túc bằng ngang qua những con đường tôi chẳng nhớ tên, qua khu trường nội trú dành cho trẻ khiếm thính có những cây lê chi chít quả cứ rụng mà không ai thèm đoái hoài, qua những khu nhà thu nhập thấp cho người da màu với dăm ba câu hát như tự thủa hồng hoang, trong bóng chiều nhá nhem, hai bóng người cứ khuất dần, khuất dần chìm vào trong bóng tối. Trong đó, có tôi.
Đôi khi, những kỷ niệm một thủa ùa về nhanh như gió bão. Đến rồi đi vô tình. Nhưng lòng người thì thăm thẳm những hố sâu không tên, cứ găm đầy những nỗi nhớ. Những tháng ngày âm u, đang qua và cũng đang thật gần, chỉ còn biết lặng im.
Thứ Năm, 2 tháng 8, 2018
Cây trượng (Le baton des bonzes) ;
Cây thần trượng hay còn gọi là trượng của Địa tạng. Đó là cây trượng của các sư thầy, được họ cầm theo trong các dịp lễ lớn dùng để trừ tà ma.
Truyền truyết kể rằng thân phụ của Địa tạng bị đọa vào địa ngục, con trai họ muốn tìm cách cứu họ ra. Ông đã ẩn sơn, học tập, tụng kinh và tự hành xác mình. Khi mà ông đạt tới cảnh giới cao nhất, ông đã tiến đến cửa địa ngục và gõ cửa ba lần từ bên ngoài bằng cây trượng mang theo. Cây trượng này phía trên đỉnh là một vành tròn bằng đồng được xâu nhiều vành tròn khác cùng kim loại. Cửa địa ngục mở ra và cha mẹ của Địa tạng được ra khỏi đó.
Từ đó trở đi, cuối mỗi dịp Tết hàng năm, các sư thầy tổ chức một buổi lễ mà người ta gọi là lễ "mở cửa địa ngục" nhằm mục đích siêu thoát những linh hồn được cầu tụng hay làm lễ tế sinh trong suốt năm; khi đó để tưởng nhớ tới việc giải cứu cha mẹ khỏi địa ngục của Địa tạng, sư chùa sẽ dùng cây trượng của họ như một nghi thức tôn giáo.
Truyền truyết kể rằng thân phụ của Địa tạng bị đọa vào địa ngục, con trai họ muốn tìm cách cứu họ ra. Ông đã ẩn sơn, học tập, tụng kinh và tự hành xác mình. Khi mà ông đạt tới cảnh giới cao nhất, ông đã tiến đến cửa địa ngục và gõ cửa ba lần từ bên ngoài bằng cây trượng mang theo. Cây trượng này phía trên đỉnh là một vành tròn bằng đồng được xâu nhiều vành tròn khác cùng kim loại. Cửa địa ngục mở ra và cha mẹ của Địa tạng được ra khỏi đó.
Từ đó trở đi, cuối mỗi dịp Tết hàng năm, các sư thầy tổ chức một buổi lễ mà người ta gọi là lễ "mở cửa địa ngục" nhằm mục đích siêu thoát những linh hồn được cầu tụng hay làm lễ tế sinh trong suốt năm; khi đó để tưởng nhớ tới việc giải cứu cha mẹ khỏi địa ngục của Địa tạng, sư chùa sẽ dùng cây trượng của họ như một nghi thức tôn giáo.
Cây trượng này không khác gì cây trượng Fo (ND - nguyên gốc) của các bồ tát Trung hoa, cây trượng của Đức phật mà vốn dĩ người An nam không rõ về sự tích của nó. Trong Fo-Kouo-Ky có nói thành phố Hi-Lo nằm ở biên giới giữa Afghanistan và vùng đất Do thái, có một cây trượng của Đức phật được đặt trong một ngôi đền đặc biệt lưu trữ thánh vật này. 'Trượng được đặt trên một cái đầu bò bằng gỗ đàn hương, dài 6 đến 7 thước. Người ta đặt nó vào trong một cái ống bằng gỗ mà phải mất cả trăm thậm chí cả ngàn người mới rút ra được."
Cây trượng là một vật bất li thân cho những thầy tu đi hành khất, gọi là cây trượng của đức tin, của sự khôn ngoan, của thanh âm bởi vì âm thanh do những vành kim loại trên đầu trượng va vào nhau tạo thành. Có một loại Sy trương kinh (? ; rituel du bâton) mà được truyền miệng nhau là phải được làm bằng thiếc vì đó là kim loại nhẹ nhât; ở đây ta thấy người ta làm trượng cả bằng đồng, xung quanh những vành tròn được khắc chữ Phạn.
Các thầy chùa cùng các thầy phù thủy đều đuổi ma quỷ bằng một cây vương trượng bằng đồng; đó là một biểu trưng cho Đại Thế Chí Bồ tát (Vadjrapani), người cầm vương trượng kim cương.
Trong các đám rước, các thầy chùa đi tay cầm cây trượng, phía trước họ sẽ là trống, mõ, trống cái cùng một số nhạc cụ khác để tạo thành một âm thanh tương đối hỗn độn; đi đầu của đoàn rước đôi khi là một nhạc cụ khá kỳ lạ mà người ta gọi là cái-bàn-nhạc gồm nhiều quả lục lạc. Nó được tạo bởi hai mặt gỗ có chiều dài không tương xứng gối vào nhau. Dọc theo chiều dài, người ta treo thành ba hàng những chiếc lục lạc bằng đồng với đủ kích cỡ cho mỗi mặt gỗ, rồi họ vỗ tấm này vào tấm kia để tạo nên thanh âm hòa cùng với các nhạc cụ khác.
Cây trượng là một vật bất li thân cho những thầy tu đi hành khất, gọi là cây trượng của đức tin, của sự khôn ngoan, của thanh âm bởi vì âm thanh do những vành kim loại trên đầu trượng va vào nhau tạo thành. Có một loại Sy trương kinh (? ; rituel du bâton) mà được truyền miệng nhau là phải được làm bằng thiếc vì đó là kim loại nhẹ nhât; ở đây ta thấy người ta làm trượng cả bằng đồng, xung quanh những vành tròn được khắc chữ Phạn.
Các thầy chùa cùng các thầy phù thủy đều đuổi ma quỷ bằng một cây vương trượng bằng đồng; đó là một biểu trưng cho Đại Thế Chí Bồ tát (Vadjrapani), người cầm vương trượng kim cương.
Trong các đám rước, các thầy chùa đi tay cầm cây trượng, phía trước họ sẽ là trống, mõ, trống cái cùng một số nhạc cụ khác để tạo thành một âm thanh tương đối hỗn độn; đi đầu của đoàn rước đôi khi là một nhạc cụ khá kỳ lạ mà người ta gọi là cái-bàn-nhạc gồm nhiều quả lục lạc. Nó được tạo bởi hai mặt gỗ có chiều dài không tương xứng gối vào nhau. Dọc theo chiều dài, người ta treo thành ba hàng những chiếc lục lạc bằng đồng với đủ kích cỡ cho mỗi mặt gỗ, rồi họ vỗ tấm này vào tấm kia để tạo nên thanh âm hòa cùng với các nhạc cụ khác.
Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du
cultes chez les annamites, 1891, trang 166.
Con sư tử (Le lion) ;
Ở Bắc kỳ, hình ảnh con sư tử được thể hiện rất nhiều trên nắp đỉnh hương hay trên các cột trụ ở đền, chùa. Đó là một họa tiết trang trí có nguồn gốc từ Trung hoa; một số hình mẫu sư tử của người Khmer (singha) cũng du nhập vào Bắc kỳ và được đón nhận nhiệt tình, tuy nhiên dường như chưa có sự pha trộn nào với hình mẫu sư tử phương Bắc.
Con sư tử luôn thường thấy ở tư thế đang vờn chơi, thân nó uốn cong, đầu nghiêng về một bên, các vuốt đang túm lấy một trái cầu. Nó đeo một quả lục lạc treo trên cổ.
Trong các huyền thoại hay trong các truyền thống địa phương, không có bất kỳ một giai thoại, dấu tích nào về loài vật này, dường như nó không đóng một vai trò nào trong thần thoại An nam.
Các cuốn hán thư thường xuyên nhắc về loài sư tử này, trong cuốn Bản thảo cương mục nói nó là vua của muôn thú, từ đó mà có tên gọi "Sư" nghĩa là thầy.
Dưới triều nhà Hán và nhà Đường, vua các nước lân bang tiến cống sư tử cho hoàng đế Trung hoa nhiều lần liên tiếp mang ý nghĩa tiểu quốc thần phục Thiên quốc.
Một người tên là Ngô Thế Nam viết một bản chuyên khảo về sư tử như sau: "Nó có bộ ngực rộng, đuôi dài, các chi khỏe, bộ lông mượt, bước chân uyển chuyển, nó bước đi không để lại thanh âm; khi vui chí nó quẫy đuôi va duỗi chi trước với cái đầu lắc phải, trái để giữ thăng bằng; khi giận dữ, nó nhe răng, mắt trợn như tia sét, gầm lên như sấm vang."
Ở bờ biển Tứ quốc có một loài sư tử mà tiếng gầm của nó làm yêu ma phải tan biết; răng nó dài, đầu màu đồng còn gương mặt màu của sắt, mắt nó tròn và mõm thì rất dài. (1)
Dưới triều nhà Nguyên, vua Ba Thư (?) dâng một con sư tử cho Tranh Dê(?) để hoàng đế giải trí bởi việc coi con sư tử chiến lại với các loài thú khác. Trong chuồng có hai con hổ đều nằm phủ phục dưới chân sư tử, một con gấu được đưa đến cũng vội tìm chỗ trốn khi ngửi thấy hơi sư tử. Nghe thấy tiếng gầm của sư tử, ngựa cũng đái ra máu. (3)
Con sư tử luôn thường thấy ở tư thế đang vờn chơi, thân nó uốn cong, đầu nghiêng về một bên, các vuốt đang túm lấy một trái cầu. Nó đeo một quả lục lạc treo trên cổ.
Trong các huyền thoại hay trong các truyền thống địa phương, không có bất kỳ một giai thoại, dấu tích nào về loài vật này, dường như nó không đóng một vai trò nào trong thần thoại An nam.
Các cuốn hán thư thường xuyên nhắc về loài sư tử này, trong cuốn Bản thảo cương mục nói nó là vua của muôn thú, từ đó mà có tên gọi "Sư" nghĩa là thầy.
Dưới triều nhà Hán và nhà Đường, vua các nước lân bang tiến cống sư tử cho hoàng đế Trung hoa nhiều lần liên tiếp mang ý nghĩa tiểu quốc thần phục Thiên quốc.
Một người tên là Ngô Thế Nam viết một bản chuyên khảo về sư tử như sau: "Nó có bộ ngực rộng, đuôi dài, các chi khỏe, bộ lông mượt, bước chân uyển chuyển, nó bước đi không để lại thanh âm; khi vui chí nó quẫy đuôi va duỗi chi trước với cái đầu lắc phải, trái để giữ thăng bằng; khi giận dữ, nó nhe răng, mắt trợn như tia sét, gầm lên như sấm vang."
Ở bờ biển Tứ quốc có một loài sư tử mà tiếng gầm của nó làm yêu ma phải tan biết; răng nó dài, đầu màu đồng còn gương mặt màu của sắt, mắt nó tròn và mõm thì rất dài. (1)
Dưới triều nhà Nguyên, vua Ba Thư (?) dâng một con sư tử cho Tranh Dê(?) để hoàng đế giải trí bởi việc coi con sư tử chiến lại với các loài thú khác. Trong chuồng có hai con hổ đều nằm phủ phục dưới chân sư tử, một con gấu được đưa đến cũng vội tìm chỗ trốn khi ngửi thấy hơi sư tử. Nghe thấy tiếng gầm của sư tử, ngựa cũng đái ra máu. (3)
Dưới triều nhà Tống, vua Tây Vực đã triều cống một con sư tử. Khi đi đến Yên Tây, người ta buộc con sư tử vào một gốc cổ thụ nằm gần một cái giếng, con sư tử gầm một tiếng dài, ngay lập tức mây đen ùn ùn kéo tới, mưa rơi như trút nước, trong giếng có một con rồng cũng bay lên trời mà trốn. (4)
Một thầy tu tên là Than That(?) từ Ấn độ đến Trung hoa, băng ngang qua một khu rừng gần Dai Thang (Đại Đường? -ND) thì nghe thấy một tiếng gầm lớn rồi sau đó muông thú đều bỏ chạy trong hoảng loạn; bốn con voi cách đó không xa vẫn nằm bên đầm lầy với cái vòi cuộn che lấy thân. Thình lình, ba con sư tử đi ra từ sơn động vừa đi vừa nhảy nhót tiến lại, chúng cán nát những cây cỏ ngáng đường chúng qua. Chúng xông vào bốn con voi mà xé xác ra thành từng mảnh.
Một hôm có một người mang đến sân Ngũ Yên (la cour des Ngu-yen) một con thú có đầu hổ chân chó, bộ lông loang màu xanh và đen, không biết nên gọi tên là gì. Người ta cho nó vào chung một chỗ với hổ, gấu và những loài thú hung dữ khác, chúng bắt đầu run rẩy. Con vật lạ kia đánh hơi những con còn lại và đái lên trên đầu chúng. Từ đó mà người ta đặt và gọi loài sư tử là một loài đặc biệt.(5)
Một thầy tu tên là Than That(?) từ Ấn độ đến Trung hoa, băng ngang qua một khu rừng gần Dai Thang (Đại Đường? -ND) thì nghe thấy một tiếng gầm lớn rồi sau đó muông thú đều bỏ chạy trong hoảng loạn; bốn con voi cách đó không xa vẫn nằm bên đầm lầy với cái vòi cuộn che lấy thân. Thình lình, ba con sư tử đi ra từ sơn động vừa đi vừa nhảy nhót tiến lại, chúng cán nát những cây cỏ ngáng đường chúng qua. Chúng xông vào bốn con voi mà xé xác ra thành từng mảnh.
Một hôm có một người mang đến sân Ngũ Yên (la cour des Ngu-yen) một con thú có đầu hổ chân chó, bộ lông loang màu xanh và đen, không biết nên gọi tên là gì. Người ta cho nó vào chung một chỗ với hổ, gấu và những loài thú hung dữ khác, chúng bắt đầu run rẩy. Con vật lạ kia đánh hơi những con còn lại và đái lên trên đầu chúng. Từ đó mà người ta đặt và gọi loài sư tử là một loài đặc biệt.(5)
Luc-Khay(?) ốm đau với cơn sốt đã vẽ lên cửa nhà một con sư tử rồi trở lại giường nằm.Đêm đó, ông nghe thấy tiếng động lạ trước cửa nhà, tưởng đâu là lũ trâu trọi nhau. Buổi sáng hôm sau ngay khi mở cửa. ông nhận thấy con sư tử được vẽ trên vách có mõm bị vấy máu. Cơn sốt cũng qua và không bao giờ quay trở lại nữa.
Cuốn sách Bát vật chí viết rằng nếu dùng đuôi sư tử để quạt mát, muỗi sẽ biến mất theo.
Học giả biên Kỳ Văn khẳng định rằng có loài sư tử màu xanh và có những loài màu trắng, chúng khỏe hơn rất nhiều so với loài sư tử thông thường. Ông thêm rằng sữa của sư tử cái thấm xuyên qua cả những kim loại cứng nhất và chỉ có thể đựng được trong lọ thủy tinh.
Phân của sư tử được dùng làm hương gọi là Tho hơp (?)
Điệu múa rồng được du nhập từ Trung hoa qua Bắc kỳ, đôi khi người ta thêm vào điệu múa này một linh thú khác đóng vai trò kích thích con rồng. Người ta gọi đó là con lân (con sư tử).
Thế nhưng, không có gì là tuyệt đối chính xác. Như trong bài viết khác đã hay, địch thủ của loài rồng là loài hổ, tượng trưng cho mặt trời mùa xuân trong chòm sao Bạch hổ.
(1) Dong quan ky.
(2) Ky Van
(3) Ky van
(4) Kế chích.
(5) Kouang Sư loai.
(2) Ky Van
(3) Ky van
(4) Kế chích.
(5) Kouang Sư loai.
Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du
cultes chez les annamites, 1891, trang 161.
Thứ Tư, 1 tháng 8, 2018
Ngọc ký (L'étagère) ;
Ở những gia đình khá giả hay trong phủ quan lại, thường thấy một cái kệ nhỏ được gọi là ngọc ký (kệ hình chữ văn). Ngọc ký có nguồn gốc từ Trung hoa, luôn được trưng bày trên đó năm món đồ theo trình tự ở hình minh họa bên dưới.
Một bầu bằng đồng hoặc gốm sứ men chàm để đựng rượu. Bầu rượu.
Một lọ hoa cổ cao để cắm hoa.
Một lư hương không chân hoặc ba chân.
Một ống cắm bút.
Một đĩa bồng (đĩa ngũ quả) được bày năm loại quả mang tính biểu tượng : đào , nho, mơ, hạt dẻ, táo nhưng bởi sự khan hiếm của những loại quả này ở Bắc kỳ, người ta thường bày những loại quả mang hương thơm như trái cam hay quả Phật thủ.
Việc trưng ngọc ký trong gia đình có ý nghĩa về mặt tín ngưỡng. Ngọc ký là một bàn lễ vật mà trên đó người ta xếp những món đồ của đất, nước, hoa trái ; những điều khởi phát từ loài người, triết học và văn học được tượng trưng bởi ngòi bút lông, còn lư hương tỏa khói bay lên trời tượng trưng cho những lời cầu nguyện.
Nguồn: Les symboles, les emblèmes et les accessoires du
cultes chez les annamites, 1891, trang 159.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






