|
Tên bộ tem
|
Mặt nạ kịch
|
|
Ngày phát hành
|
07-10-2013
|
|
Người thiết kế
|
Stéphane Humbert-Basset
|
|
Khuôn khổ tem
|
Bloc 6 tem 105x143mm
|
|
Số bản in
|
850 000
|
|
Tem in offset và tinh khắc
|
|
Mặt nạ Kịch Noh
Mặt nạ trong kịch Nō (能面 nō-men (năng diện) hay 面 omote (diện))
đều có tên riêng.
Thường chỉ có shite, diễn viên chính, mới đeo mặt nạ. Tuy
nhiên, trong một số trường hợp, tsure cũng có thể đeo mặt nạ, đặc biệt là với
vai nữ. Mặt nạ kịch Nō vẽ chân dung của phụ nữ hay những nhân vật không phải
người (thần thánh, quỷ, hay động vật). Cũng có vài mặt nạ kịch Nō để diễn tả trẻ
con hay người già. Mặc khác, diễn viên không đeo mặt nạ đóng vai đàn ông trưởng
thành ở 20, 30 hay 40 tuổi. Diễn viên phụ waki không đeo mặt nạ.
Vài loại mặt nạ, đặc việt là cho vai nữ, được thiết kế để chỉ
cần một sự điều chỉnh nhẹ ở vị trí đầu cũng có thể biểu lộ nhiều cảm xúc như sợ
hãi hay đau buồn nhờ vào ánh sáng và góc độ hướng đến khán giả. Với những mặt nạ
lộng lẫy cho thần thánh hay quỷ, thường không thể thể hiện cảm xúc. Tuy vậy,
thông thường, những nhân vật này không được yêu cầu phải thay đổi biểu lộ cảm
xúc trong toàn buổi diễn, hay thể hiện cảm xúc thông qua ngôn ngữ cơ thể.
Những mặt nạ Nō hiếm nhất và giá trị nhất thậm chí không được
lưu giữ ở các bảo tàng Nhật Bản, mà trong các bộ sưu tập cá nhân của hiệu trưởng
(iemoto) các trường dạy kịch Nō; những báu vật này chỉ được trưng bày cho một
thiểu số người xem và hiếm khi được mang ra biểu diễn. Nó không làm hư hại gì
khi đem ra nghiên cứu và đánh giá mặt nạ kịch Nō, vi truyền thống đã để lại vài
trăm tiêu chuẩn thiết kế mặt nạ khác nhau, có thể phân thành một một tá các thể
loại.








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét